Soạn bài: Ôn tập phần làm văn

Soạn bài: Ôn tập phần làm văn

Ôn tập phần làm văn bao gồm các câu hỏi đã được chọn lọc trong ngân hàng đề. Những kiến thức đưa ra rất sát với chương trình thi. Hy vọng bạn sẽ có được những kiến thức bổ ích nhất.

Ôn tập phần làm văn Câu 1.

Các kiểu văn bản đã học

Ôn tập phần làm văn Câu 2.

Các bước viết văn bản cần:

– Tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết

– Tìm ý, chọn ý cho bài văn, lập dàn ý

– Viết văn bản

– Kiểm tra, chỉnh sửa

Ôn tập phần làm văn Câu 3:

Đề tài cơ bản của văn nghị luận trong nhà trường

– Nghị luận xã hội: một hiện tượng đời sống, một vấn đề tư tưởng đạo lý

– Nghị luận văn học: bàn về một ý kiến văn học, nghị luận đoạn trích, tác phẩm văn xuôi

*Giống: trình bày tư tưởng, quan điểm, nhận xét, đánh giá… các vấn đề nghị luận, sử dụng thao tác lập luận

*Khác:

– Nghị luận xã hội cần người viết có vốn sống, hiểu biết thực tiễn, hiểu biết xã hội phong phú…

Nghị luận văn học: nắm vững khái niệm, kiến thức văn học, khả năng lí giải vấn đề văn học, cảm thụ tác phẩm, hình tượng…

Lập luận trong văn nghị luận

– Gồm: luận điểm, luận cứ, thao tác, phương pháp lập luận

– Luận điểm: tư tưởng cơ bản của bài văn nghị luận: luận cứ bao gồm lí lẽ dẫn chứng để giải thích, chứng minh luận điểm. Phương pháp lập luận: sắp xếp các luận điểm, luận cứ một cách khoa học, chặt chẽ

– Các yêu cầu cơ bản:

+ Lí lẽ phải có cơ sở, dựa trên chân lí được thừa nhận

– Lỗi thường gặp: sắp xếp lộn xộn luận điểm, lỗi chính tả, lỗi trình bày. Nêu luận cứ không xác thực, không có tính phổ biến, luận cứ không phù hợp với luận điểm.

– Thao tác lập luận cơ bản: giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận

+ Lý lẽ dẫn chứng phải phục vụ đắc lực cho luận điểm

– Bố cục bài văn nghị luận: Gồm ba phần: mở, thân , kết thống nhất với nhau

+ Mở bài: thông báo chính xác, ngắn gọn vấn đề nghị luận, hướng người đọc, người nghe vào nội dung cần lập luận

+ Thân bài: thành phần chính của lập luận, triển khai các luận điểm, vấn đề bằng cách thích hợp

+ Kết bài: chốt vấn đề, nêu khái quát, làm nổi bật, gợi liên tưởng sâu sắc, rộng hơn.

– Diễn đạt

+ Chặt chẽ, thuyết phục cả về lý trí, tình cảm

+ Cách dùng từ, viết câu linh hoạt, giọng văn trang trọng, nghiêm túc

+ Sử dụng phép tu từ hợp lý

Ôn tập phần làm văn

Ôn tập phần làm văn Bài 1 (trang 183 sgk ngữ văn 12 tập 2)

– Đề 1: nghị luận xã hội. Đề 2 nghị luận văn học

– Xô-crat đưa ra những luận điểm: có chắc chắn về điều mình nói không? Những điều anh nói có tốt đẹp không? Những điều anh nói có thật sự cần thiết cho tôi?

Bài học: khi nói bất cứ điều gì cần có tính xác thực, cần mang những điều tốt đẹp tới người khác thay vì bôi xấu, đặt điều cho những người không có mặt. Nên nói những điều cần thiết với người nghe

Đối với đề số 2: cần nêu bật được giá trị nội dung và nghệ thuật, của tác phẩm.

Ôn tập phần làm văn Bài 2 (trang 183 sgk ngữ văn 12 tập 2)

– Cả hai đề nên sử dụng thao tác: phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ

Luận điểm cơ bản:

Đề 1: – Nói những điều là chân lý, sự thật để người nghe nắm bắt

– Nói những điều tốt đẹp

– Nói những điều hữu ích, cần thiết với người nghe

Đề 2: Nêu nội dung của tác phẩm

Nêu nghệ thuật của tác phẩm

– Lập dàn ý:

+ MB: giới thiệu tác giả, tác phẩm , giới thiệu vị trí, nội dung đoạn trích

+ TB: Phân tích ý nghĩa đoạn trích (nội dung, nghệ thuật )

+ KB: Khẳng định giá trị về nội dung, nghệ thuật. Tác phẩm thể hiện tư tưởng chủ đạo gì, góp phần đóng góp vào phong cách sáng tác của tác giả

Viết mở bài:

Tình yêu quê hương đất nước đi vào thơ ca một cách tự nhiên và đã trở thành đề tài muôn thưở khơi nguồn cảm hứng cho các sáng tác. Dễ dàng nhận thấy những đau đớn mất mát của đất nước qua thơ Hoàng Cần, gặp sự đổi mới từng ngày của đất nước qua thơ Nguyễn Đình Thi nhưng có lẽ trọn vẹn, đủ đầy và sâu sắc nhất phải kể tới Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm. Đất nước không chỉ mang vẻ đẹp của dáng hình xứ sở mà còn hàm chứa nhiều thăng trầm lịch sử. Đất nước vừa thiêng liêng, cao đẹp, vừa gần gũi, bình dị, chan chứa tình yêu thương, cảm xúc của tác giả.

Ôn tập phần làm văn Phân tích đoạn trích trong bài Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất nước là khái niệm mang tính tổng hợp chỉ quốc gia, lãnh thổ, những yếu tố liên quan mật thiết và tái hiện được đất nước. Nhưng trong tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm, tác giả khéo léo phân tách nghĩa, để “đất” và “nước” trở thành những điều gắn bó máu thịt với người dân. Tác giả tách nghĩa hai từ đất và nước để lý giải ý nghĩa cụ thể của từng từ. Đấy có thể xem như nét độc đáo, đặc biệt chỉ có ở nhà thơ Nguyễn Khoa Điểm khi thể hiện khái niệm mang tính trừa tượng như vậy. Đất nước gắn liền với đời sống của con người, chẳng xa lạ “đất là nơi anh đến trường”, “nước là nơi em tắm” Đất nước trở nên lãng mạn như tình yêu đôi lứa, là nơi minh chứng cho tình cảm của con người với con người với nhau: đất nước là nơi ta hò hẹn”. Có thể nói tác giả Nguyễn Khoa Điềm diễn tả đất nước thật nhẹ nhàng, gần gụi với người đọc, người nghe. Đất nước chính là hơi thở, là cội nguồn của sự sống.

 

Những đề trong phần ôn tập phần làm văn trên đây nằm trong chuỗi đề mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn. Hy vọng bạn đã có được những hình dung căn bản nhất về hình thức ra đề mới của chương trình thi từ đó có phương pháp học tập đúng đắn, hiệu quả.

Soạn bài: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học

Soạn bài: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học

Giá trị văn học là một vấn đề quan trọng trong chương trình ngữ văn. Bởi văn học là cảm nhận, là đồng cảm với văn phong của tác giả. Giá trị văn học bao gồm giá trị nhận thức, giá trị thẩm mỹ và giá trị giáo dục.

Đề giá trị văn học: Câu 1 (trang 191 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Giá trị của văn học ảnh hưởng, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống:

+ Giá trị nhận thức

+ Giá trị thẩm mĩ

+ Giá trị giáo dục

* Giá trị nhận thức: phản ánh hiện thực, khám phá, lí giải đời sống con người ở nhiều không gian, thời gian khác nhau, mọi thời đại, xứ sở.

Văn học phản ánh quá trình nhận thức thế giới, tự nhận thức bản thân mình của mỗi người.

*Giá trị giáo dục

+ Văn học mang giá trị giáo dục, thông qua việc nhận thức cuộc sống đẹp, người viết nêu ca ngợi giá trị sống tốt đẹp, lên án thói hư tật xấu nhằm tạo ra những bài học giáo dục sâu sắc.

Ngay cả khi văn học miêu tả cái xấu, cái ác thì vẫn có tác dụng giáo dục tốt đến độc giả, nếu nhà văn có cái tâm trong sáng, thái độ phê phán đúng mực, hợp lý thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo, sáng tạo

* Giá trị thẩm mĩ

Giá trị nhận thức, giá trị giáo dục của văn học có thể phát huy tích cực khi gắn với giá trị tạo nên đặc trưng của văn học, giá trị thẩm mĩ. Giá trị thẩm mĩ có khả năng của văn học có thể phát hiện, miêu tả những vẻ đẹp của cuộc sống một cách sinh động,giúp con người cảm nhận được, rung cảm với những vẻ đẹp phong phú, rộng lớn từ tình cảm, thế giới bên ngoài.

– Vẻ đẹp văn học hài hòa giữa hình thức với nội dung, mang lại những tình cảm thẩm mỹ cho người đọc

Đề giá trị văn học: Câu 2 (Trang 191 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Mối quan hệ mật thiết giữa các giá trị văn học khác nhau

+ Ba mối quan hệ mật thiết không tách rời, tác động đến người đọc (khái niệm chân, thiện, mĩ)

– Giá trị nhận thức làm tiền đề giá trị giáo dục, giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức

– Không có nhận thức đúng đắn, văn học không thể giáo dục con người

– Giá trị nhận thức, giá trị giáo dục được phát huy tích cực nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ

Soạn bài: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học

Đề giá trị văn học: Câu 3 (Trang 191 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tiếp nhận văn học, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp và tài nghệ của tác giả.

Hai tính chất cơ bản:

+ Tính chất cá thể hóa, chủ động, tích cực của người tiếp nhận. Yếu tố thuộc về cá nhân và vai trò quan trọng: năng lực, thị hiếu, sở thích, lứa tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống…

Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, lứa tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống…

Khuynh hướng tư tưởng tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ làm cho sự tiếp nhận đậm nét cá nhân

Sự chủ động, tích cực của người tiếp nhận làm tăng sức sống cho tác phẩm

+ Tính đa dạng, không thống nhất: cảm thụ, đánh giá của công chúng về một tác phẩm khác nhau, thậm chí cùng một người ở nhiều thời điểm khác nhau

Đề giá trị văn học: Câu 4 (trang 191 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Cấp độ tiếp nhận văn học:

– Cảm thụ tập trung vào nội dung cụ thể, toàn bộ câu chuyện tác giả muốn nói gì

– Cảm thụ qua nội dung trực tiếp, thấy được nội dung tư tưởng tác phẩm ‘

– Cảm thụ chú ý tới nội dung, hình thức nghệ thuật, thấy được giá trị tư tưởng, nghệ thuật, đòi hỏi người đọc phải có năng lực cảm thụ

Đề giá trị văn học: Bài 1 (trang 191 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tuy nhiên khi nói tới giá trị cao quý nhất của văn chương thì đúng là “văn chương làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”

Bởi: văn chương khơi gợi trong con người những tình cảm tốt đẹp chưa có và đã có.

+ Văn chương mở ra những khát vọng, gieo cho con người những tình cảm cao đẹp.

+ Văn chương phát hiện, miêu tả vẻ đẹp của cuộc sống một cách sinh động, giúp con người cảm nhận một cách tinh tế, sâu sắc vẻ đẹp.

Đề giá trị văn học: Bài 2 (trang 191 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Văn bản Vợ nhặt:

+ Giá trị nhận thức: tái hiện chân thực thời kì đau thương của dân tộc khi chịu hai ách áp bức, bóc lột của thực dân và phát xít. Nạn đói năm 1945 cướp đi mạng sống của nhiều người.

+ Giá trị thẩm mĩ: khơi gợi niềm đồng cảm, thương cảm của người đọc đối với thân phận con người nghèo khó trong thời kì đất nước bị ngoại xâm.

+ Giá trị giáo dục: giáo dục lòng yêu nước, lòng thương người.

Đề giá trị văn học: Bài 3 (trang 191 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Cảm: chính là cảm nhận, tình cảm mà người viết gửi gắm, người đọc tiếp nhận. Cảm ở đây xuất phát từ tình cảm của con người

Hiểu: nắm được nội dung, tình cảm, hiểu được bản chất vấn đề, nắm được kiến thức.

Hiểu thuộc về nhận thức, khi người đọc nhận thức, nhìn nhận đúng đắn một tác phẩm cả về nội dung và nghệ thuật sẽ có cơ sở lí giải những ấn tượng, cảm xúc mà tác phẩm gợi ra.

 

Những đề bài về giá trị văn học trên đây sẽ hữu ích cho học sinh trong việc trả lời các câu hỏi thi. Bên cạnh đó nó cũng giúp cảm thụ văn học sâu sắc hơn. Có như vậy mới có thể tìm được sự đồng điệu và quan trọng là có kết quả tốt trong những kỳ thi sắp tới.

Tổng kết phần tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ

Soạn bài: Tổng kết phần tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ

Tổng kết phần tiếng Việt liên quan đến lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ là một tài liệu bổ ích. Qua đó học sinh có thể hình dung được những kiến thức căn bản nhất về chương trình học.

Tổng kết phần tiếng Việt Câu 1 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tổng kết phần tiếng Việt Câu 2 (trang 193 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tổng kết phần tiếng Việt Câu 3 (trang 193 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tổng kết phần tiếng Việt Câu 4 (trang 193 sgk ngữ văn 12 tập 2)

– Văn bản a sử dụng phong cách ngôn ngữ khoa học nên văn phong thể hiện tính trừu tượng, lý trí, logic, tính phi cá thể

– Văn bản b viết theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật nên mang tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể hóa

Tổng kết phần tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ

Tổng kết phần tiếng Việt Câu 5 (trang 194 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ hành chính

b, Đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản:

+ Từ ngữ: văn bản sử dụng nhiều thuật ngữ, từ thường gặp trong ngôn ngữ hành chính như: quyết định, căn cứ, luật, nghị định 299/ HĐBT, ban hành điều lệ, thi hành quyết định này

+ Về câu: các kiểu câu thường theo motip chung: UBND thành phố Hà Nội căn cứ… xét đề nghị… quyết định…

+ Về kết cấu: Phần đầu có tiêu ngữ, cơ quan ra quyết định, ngày tháng năm, tên quyết định

– phần chính: nội dung quyết định

– Phần cuối: chữ kí, họ tên, nơi nhận

c, Tin ngắn: Vào sáng ngày 12/11, bà Trần Thị Tâm Đan thay mặt UBND thành phố HN đã kí quyết định thành lập bảo hiểm Y tế Hà Nội. Quyết định này nêu rõ nhiệm vụ, tổ chức phòng ban để các cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm thi hành.

 

Tổng kết phần tiếng Việt trên đây sẽ đặc biệt hữu ích cho các bạn học sinh lớp 12. Bởi có nắm vững được các kiến thức căn bản về tiếng việt mới có thể ứng dụng để làm bài tốt được.

Soạn bài: Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2

Soạn bài: Ôn tập phần văn học Lớp 12 kì 2

Ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 luôn là nỗi bận tâm của các bạn học sinh. Bởi văn học là một chuỗi đề tài dài, không hồi kết. Do vậy việc ôn tập văn học lớp 12 rất khó khăn. Chính vì thế chúng tôi chia sẻ bộ đề ôn tập văn học lớp 12 hy vọng bạn sẽ có được một hình dung cơ bản nhất về văn học trong chương trình ngữ văn lớp 12 kỳ 2.

Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2:

– Văn học Việt Nam: Vợ chồng A Phủ; Vợ nhặt; Rừng xà nu; Những đứa con trong gia đình; Chiếc thuyền ngoài xa; Một người Hà Nội; …

– Văn học nước ngoài: Thuốc, Số phận con người, Ông già và biển cả.

Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 câu 1 (trang 197 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Vợ chồng A Phủ:

– Số phận và cảnh ngộ của con người. Số phận bi thảm của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách áp bức, bóc lột của bọn phong kiến trước cách mạng khi chịu sự thống trị của thực dân, phong kiến, thần quyền, hủ tục

Tư tưởng nhân đạo: ngợi ca sức sống mãnh liệt, tiềm tàng của con người và con đường họ tự giải phóng, đi theo cách mạng

Vợ nhặt:

– Số phận, cảnh ngộ của con người: Đặt nhân vật vào tình cảnh thê thảm của người dân lao động trong nạn đói 1945, tác giả dựng lên không khí tối tăm, ảm đạm bao trùm xóm ngụ cư

– Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm:

+ Đi sâu lí giải, phân tích hiện thực bằng cái nhìn vừa đau xót, căm giận

+ Ngợi ca tình người cao đẹp, khát vọng sống, hạnh phúc và hi vọng vào một tương lai tươi sáng

Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 câu 2 (trang 197 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Về hình tượng nhân vật của hai truyện ngắn:

a, Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trước tiên thể hiện ở nhân vật mang phẩm chất anh hùng, bất khuất, đau thương để chiến đấu lại kẻ thù xâm lược

– Đều là những con người sinh ra từ truyền thống bất khuất của gia đình, của quê hương, dân tộc

+ Tnú là người con của Xô- man, nơi từng người dân đều theo cách mạng, bảo vệ cán bộ, nơi có truyền thống đánh giặc

+ Chiến và Việt sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước, căm thù giặc: cha là cán bộ cách mạng, má là người phụ nữ Nam Bộ kiên cường trong đấu tranh, hai con tiếp nối lí tưởng của cha mẹ

– Họ chịu nhiều đau thương, mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc.

+ Tnú chứng kiến vợ con bị kẻ thù tra tấn đến chết, bản thân bị giặc đốt mười đầu ngón tay

+ Chiến và Việt chứng kiến cái chết của ba má: ba bị chặt đầu, ma chết vì đạn giặc

→ Nhưng đau thương đó hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam

– Họ đều phẩm chất anh hùng, bất khuất, là con người Việt Nam kiên trung:

+ Tnú từ nhỏ đã gan dạ, đi liên lạc bị bắt được, tra tấn dã man vẫn công khai. Anh vượt trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống giặc, bị đốt mười ngón tay vẫn không kêu rên

+ Việt bị thương trong trận đánh lại lạc mất đơn vị, chắc tay súng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị, Việt ngây thơ, nhỏ bé, trước kẻ thù Việt vụt lớn, chững chạc

– Chủ nghĩa anh hùng: thể hiện qua nhân vật (dân làng Xô- man), gia đình Việt Chiến.

Soạn bài: Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 sát với chương trình thi nhất

b, Chủ nghĩa anh hùng cách mạng thể hiện qua sức sống bất diệt của người Việt

+ Dân làng Xô Man giống như xà nu kiên cường, bất khuất, tiếp nối nhau chống giặc ngoại xâm

+ Ông nội và cha mẹ đều bị giặc giết hại, chị em Chiến Việt xung phong đi lính chiến đấu thực hiện lí tưởng gia đình

→ Sự tiếp nối, kế thừa làm nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người, giúp họ chiến đấu vượt qua nhiều khó khăn, đau thương, mất mát

c, Chất sử thi trong truyện ngắn: góp phần thể hiện thành công chủ nghĩa anh hùng cách mạng

+ Đề tài: Cuộc chiến đấu của dân tộc chống kẻ thù xâm lược

+ Chủ đề: ngợi ca phẩm chất anh hùng của con người Việt trong kháng chiến chống Mĩ

+ Nhân vật chính: Là những con người tiêu biểu cho cộng đồng về lí tưởng và phẩm chất, nhân danh cộng đồng chiến đấu

+ Giọng văn: ngợi ca, thấm đẫm cảm hứng lãng mạn cách mạng

→ Hai truyện ngắn bản hùng ca thời đại đánh Mĩ

Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 câu 3 (trang 197 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”

– Xây dựng qua việc phát hiện ra những nghịch lý của Phùng –nghệ sĩ săn tìm cái đẹp bên bờ biển, ở tòa án huyện

– Người nghệ sĩ phát hiện ra hiện thực trớ trêu, nghịch cảnh, chiếc thuyền đẹp như ngư phủ lại bước ra một người đàn bà xấu xí, cam chịu, lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như cách giải tỏa

– Nghịch lý người đàn bà hàng chài van xin được sống với người chồng vũ phu. Câu chuyện về cuộc đời đã giúp cho nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu “ngộ” ra những chân lí, sâu sắc về cuộc sống

Ý nghĩa:

– Tư tưởng nghệ thuật: bên ngoài và bản chất đôi khi đối lập. Không phải lúc nào cái đẹp cũng thống nhất với cái Thiện, cần nhìn đa chiều

+ Người nghệ sĩ cần gần gũi với cuộc đời, cần rút ngắn khoảng cách giữa cuộc đời và nghệ thuật

+ Nghệ sĩ không nhìn về cuộc đời bằng con mắt đơn giản, dễ dãi, phải có tấm lòng, có can đảm, biết trăn trở về con người

– Giá trị hiện thực: cuộc sống nghèo đói, tăm tối dẫn tới nạn bạo lực gia đình. Cần bảo vệ quyền sống của con người.

+ Giá trị nhân đạo: Sự chia sẻ cảm thông của tác giả với những số phận đau khổ tủi nhục của người lao động nghèo trong xã hội. Lên án, đấu tranh cái xấu, cái ác.

Soạn bài: Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 sát với chương trình thi nhất

Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 câu 4 (Trang 197 ngữ văn 12 tập 2)

Ý nghĩa tư tưởng đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”

– Được sống là đáng quý, nhưng sống đúng là mình, sống trọn vẹn nhưng giá trị mình muốn và theo đuổi còn quý giá hơn

– Con người phải luôn luôn biết đấu tranh nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý

– Con người phải luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách, vươn tới giá trị tinh thần cao

Câu 5 (trang 197 sgk ngữ văn 12 tập 2)

– Nghệ thuật:

+ Miêu tả tinh tế, sâu sắc nội tâm, diễn biến tâm trạng nhân vật

+ Lời kể chuyện giản dị, sinh động, giàu sức hấp dẫn

+ Nhiều đoạn trữ tình ngoại đề gây xúc động mạnh cho người đọc

– Ý nghĩa đoạn trích ngoại đề gây xúc động mạnh cho người đọc

+ Con người bằng ý chí, nghị lực, niềm tin vào tương lai, cần vượt qua chiến tranh, bi kịch của số phận

+ Cảm thông, chia sẻ với những đau thương mất mát, di chứng chiến tranh, cùng những khó khăn trong cuộc mưu sinh thường nhật

+ Lên án bão tố chiến tranh phi nghĩa, sức tàn phá của nó

+ Khát vọng hòa bình, tin tưởng vào ý chí, nghị lực

Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 câu 6 (trang 197 sgk ngữ văn 12 tập 2)

+ Cốt truyện đơn giản nhưng hàm súc

+ Hình ảnh, ngôn ngữ giàu tính biểu tượng

+ Lối dẫn truyện nhẹ nhàng, tự nhiên sâu sắc, lôi cuốn

– Truyện ngắn Thuốc phê phán căn bệnh gia trưởng, lạc hậu của người Trung Quốc bấy giờ, xót xa cho người làm cách mạng xa rời quần chúng

Ý nghĩa truyện ngắn Thuốc:

+ Người Trung Quốc cần có thứ thuốc để chữa trị tận gốc căn bệnh mê muội về tinh thần

+ Nhân dân không nên “ngủ say trong cái nhà hộp bằng sắt”

+ Người làm cách mạng phải gần gũi, giác ngộ quần chúng

Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 câu 7 (trang 197 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Soạn bài: Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 sát với chương trình thi nhất

Ý nghĩa của biển cả:

– Ông lão và con cá kiếm. Hai hình tượng mang một vẻ đẹp song song tương đồng trong một tình huống căng thẳng đối lập

– Ông lão tượng trưng cho vẻ đẹp của con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị

– Ông lão ngư phủ lành nghề, một mình đơn độc trong cuộc chiến dũng cảm và mưu trí, thực hiện ước mơ

+ Cảm nhận của ông về “đối thủ” cá kiếm” không hề thù hằn mà ngược lại, ông gần như cảm kích, chiêm ngưỡng, thậm chí nuối tiếc nếu giết nó

– Cá kiếm tượng trưng

+ Vẻ đẹp kiêu hùng, vĩ đại của tự nhiên, những vòng lượn của con cá kiếm thể hiện lòng dũng cảm, kiên cường không kém gì đối thủ của nó

+ Con cá kiếm chính là hình ảnh lí tưởng, của ước mơ mỗi người theo đuổi trong cuộc đời

+ Sự khác biệt giữa hình ảnh đẹp khi chưa bị chiếm lĩnh mang một ý nghĩa riêng, đó là hình ảnh chuyển từ ước mơ sang hiện thực, nó không còn lung linh, huy hoàng như trước

+ Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên, con người vừa là bạn vừa là đối thủ: con á kiếm là ước mơ cao cả nhưng cũng khác thường, cao cả mà con người theo đuổi trong đời

Trên đây là tuyển tập Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 mà các bạn học sinh nên tham khảo. Nhất là đối với chương trình ngữ văn lớp 12 thì càng khó. Hy vọng những câu hỏi trong bộ đề này sẽ là hành trang vững chắc giúp bạn vượt qua các kỳ thi cam go trước mắt. Con đường Đại học đang chào đón những ai có phương pháp học tập đúng cách. Hãy tham khảo Bộ đề ôn tập văn học lớp 12 kỳ 2 ngay nhé!

Soạn bài: Tổng hợp bài kiểm tra kiểm tra ngữ văn lớp 12

Soạn bài: Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12

Những bài kiểm tra kiểm tra ngữ văn lớp 12  là tập hợp ngân hàng đề thi được tổng hợp từ nhiều nguồn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hệ thống hóa kiến thức trong nhà trường để có một kỳ thi tốt nhất. Hãy note lại những kiến thức quan trọng mà chúng tôi tổng hợp được ở đây bạn nhé!

 

Kiểm tra ngữ văn lớp 12 câu 1 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tác giả Tô Hoài:

– Tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê ở Thanh Oai, Hà Đông, nhưng sinh ra và lớn lên ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức (nay là Cầu Giấy, Hà Nội)

– Thời trẻ ông lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề, đôi khi thất nghiệp

– Ông tham gia vào kháng chiến, sau đó viết văn, sáng tác nghệ thuật

– Sự nghiệp sáng tác:

+ Ban đầu ông viết thơ có tính lãng mạn, viết truyện võ hiệp nhưng ông chuyển sang viết văn xuôi hiện thực, được chú ý và biết tới với tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí

+ Ông thành công với nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng

– Phong cách sáng tác:

+ Diễn tả sự thật đời thường

+ Có hiểu biết phong phú, sâu sắc về tập quán nhiều vùng khác nhau trên đất nước

+ Là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải

– Tác phẩm chính nổi tiếng: Dế Mèn phiêu lưu kí, Quê hương, O chuột, Truyện Tây Bắc, Cát bụi chân ai… Đặc biệt truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được tặng giải Nhất – Hội nhà văn Việt Nam 1945 – 1955 đến nay vẫn giữ nguyên giá trị sức hút với nhiều người đọc.

 

Kiểm tra ngữ văn lớp 12 câu 2 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 2):

Soạn bài: Tổng hợp bài kiểm tra kiểm tra ngữ văn lớp 12

Phân tích giá trị nghệ thuật trong việc tạo tình huống truyện Vợ nhặt

Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm

Vợ nhặt được coi là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, đây là truyện ngắn nói về cuộc sống của con người ở làng quê Việt Nam, đó cũng là đề tài chính trong các sáng tác của Kim Lân

– yếu tố làm nên giá trị tư tưởng, nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Vợ nhặt chính là việc Kim Lân xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo.

Thân bài

Tình huống truyện có vấn đề, hàm chứa mâu thuẫn, đòi hỏi con người càn có thái độ hay hành động thích ứng, qua đó bộc lộ tâm hồn, tính cách, trí tuệ của mình

– Yếu tố tạo nên tình huống đặc sắc:

+ Nhan đề truyện hấp dẫn, gợi tò mò chú ý cho người đọc

+ Tình huống truyện xây dựng trên những mâu thuẫn éo le, góp phần phản ánh tình cảnh khốn khổ, cùng cực của người dân trong những năm 1945

+ Tràng người trong hoàn ảnh bình thường khó có khả năng lấy được vợ: là dân ngụ cư lép vế trong làng xã, lại nghèo khổ, xấu xí, thô kệch, hơi dở tính. Vậy mà Tràng lấy được vợ, chóng vánh tới mức không thể tin được

+ Hoàn cảnh trớ trêu, Tràng nhặt được vợ ngay lúc nạn đói hoành hành

– Giá trị của tình huống:

+ Tình huống kì lạ, độc đáo, phản ánh hiện thực xã hội trong những năm 1945

+ Đói khát khiến giá trị con người trở nên rẻ rúng, những điều thiêng liêng, đẹp đẽ trở nên bi hài tới tội nghiệp

+ Sự đói khát khiến cho hình hài,bộ dạng con người tiều tụy, thê lương ( cô vợ Tràng nhặt được mặt mũi hốc hác, chỉ còn hai con mắt…)

+ Xót thương cho thân phận con người qua bức tranh hiện thực ngày đói, nhà văn thể hiện tư tưởng nhân đạo trong việc ngợi ca niềm tin, tình yêu thương, che chở giữa người với người.

+ Những khát vọng bình dị về cuộc sống hạnh phúc, an lành

– Giá trị tố cáo:

Căm hận trước tội ác của bọn thực dân, phát xít khi chúng xâm lược nước ta

Kết bài: Tạo dựng tình huống đặc sắc với sự tập trung cao độ những yếu tố tương phản, éo le, khi con người bị đẩy tới đường cùng của nghèo đói.

– Qua đó ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người, thể hiện niềm tin, khát vọng vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Kiểm tra ngữ văn lớp 12 câu 1 (Trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Giới thiệu tác giả Hê- minh- uê:

Nhà văn Mỹ để lại ấn tượng sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây, góp phần đổi mới truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới

– Ông từng làm báo, làm phóng viên trên mặt trận cho tới khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai

– Những tác phẩm nổi tiếng: Mặt trời vẫn mọc, Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai

– Truyện ngắn của ông được đánh giá là tác phẩm mang phong vị độc đáo

Soạn bài: Tổng hợp bài kiểm tra kiểm tra ngữ văn lớp 12

– Tác phẩm Ông già và biển cả:

+ Ra mắt bạn đọc trước khi Hê-minh-uê được tặng giải No-ben văn học.

– Truyện kể về hành trình hai ngày, ba đêm ra khơi đánh cá của ông lão Xan- ti-a- go. Trong khung cảnh mênh mông biển trời, ông lão quyết tâm theo đuổi con cá kiếm.

Hành trình chinh phục con cá kiếm là hành trình nhọc nhằn,dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình, thể nghiệm thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ sáng tạo, thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.

– Tác phẩm ông già và biển cả xuất hiện trên phần nổi của ngôn từ không nhiều song với lối viết giản dị, đã tạo nên nhiều tầng ý nghĩa người đọc rút ra tùy theo thể nghiệm, hiểu biết.

Tác phẩm sáng tác theo nguyên lí tảng băng trôi.

– Truyện ngắn Ông già và biển cả xuất hiện trên phần nổi của ngôn từ không nhiểu, lối viết giản dị xong phần chìm của nó rất lớn.

Đây là một trong những đề kiểm tra kiểm tra ngữ văn lớp 12 phổ biến nhất hiện nay

Kiểm tra ngữ văn lớp 12 câu 2 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Dàn ý: “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”

Mở bài: Trích dẫn ý kiến phần đề bài, gợi cho chúng ta suy nghĩ về những điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Cho ta những định hướng sống trong thời đại có quá nhiều thay đổi

 

Thân bài

* Giải thích các yếu tố có trong quan điểm

– Thời gian có hạn với con người, người ta còn ví thời gian với những thứ quý giá trên đời “thời gian là vàng bạc”

– Lời nói là biểu hiện của tư tưởng, lối sống, đạo đức của con người, vì thế con người luôn phải thận trọng với lời nói của mình

– Khi nói ra phải thực hiện được để giữ chữ tín

– Cơ hội chính là sự may mắn, điều kiện thuận lợi tới để ta có thể thay đổi cuộc sống.Khi cơ hội đến nhưng không biết nắm bắt cơ hội thì rất khó có sự thay đổi đột phá, vì vậy cần tranh thủ tận dụng cơ hội khi chúng tới

* Cần biết sử dụng, tận dụng các yếu tố về thời gian, cơ hội, lời nói

+ Khai thác hiệu quả quỹ thời gian và lời nói để đạt được những mục tiêu về học tập, làm việc, thành quả trong cuộc sống

– Để có thể sử dụng hiệu quả thời gian, lời nói, cơ hội con người cần có hiểu biết, trí tuệ, phải học tập và rèn luyện một cách khoa học

– Khi sống có kế hoạch, mục đích thì ta mới biết sắp xếp và sử dụng quỹ thời gian hợp lý.

– Phê phán những người nói lời khoác lác, khoe mẽ, nói những điều sai sự thật, gây chia rẽ, bất hòa

– Thời gian, lời nói và cơ hội là những điều quý giá nhất trong cuộc sống của mỗi người. Nếu biết sử dụng những điều này sẽ mang lại cho ta nhiều thành công trong cuộc sống.

– Cần phải biết học tập, rèn luyện để có thể sử dụng hiệu quả lời nói, thời gian và biết vận dụng cơ hội để có thể vững tin vào cuộc sống

– Sử dụng các câu ca dao, thành ngữ, nói về giá trị của thời gian, lời nói và cơ hội để minh chứng cho tầm quan trọng của những yếu tố trên

+ Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

+ Ăn nhai, nói nghĩ.

* Bài học rút ra từ ý kiến trên:

+ Không nên lãng phí thời gian,

+ Cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo, chín chắn trước những điều sắp nói

+ Thời cơ đến phải biết tận dụng và nắm bắt thời cơ.

Kết bài: Khẳng định tầm quan trọng của thời gian, lời nói và cơ hội đối với sự thành công trong cuộc sống.

 

Trên đây là tổng hợp những  bài kiểm tra kiểm tra ngữ văn lớp 12 là tập hợp đề để các bạn sĩ tử nắm được những kiến thức quan trọng nhất của chương trình học. Nhất là vào thời điểm cuối cấp với những áp lực thi cử thì đây chính là những tài liệu hữu ích để các bạn tham khảo. Hy vọng các bạn sẽ có một mùa thi hiệu quả.

Nhìn lại tiếp sức mùa thi năm 2017

Năm 2017 đang dần đi qua, chúng ta hãy cùng nhìn lại những hình ảnh mà các bạn sinh viên đã cùng hỗ trợ cho mùa thi 2017

Dầm mình dưới mưa tiếp sức thí sinh, hình ảnh xúc động mùa thi

Che mưa cho sĩ tử, cõng thí sinh từ cổng trường lên đến lầu 2 hay dắt xe cho phụ huynh… là những hình ảnh đẹp của các tình nguyện viên Tiếp sức mùa thi trong kỳ thi THPT Quốc gia.

Kỳ thi THPT Quốc gia năm nay nhẹ nhàng và bình yên hơn các năm trước do thí sinh tỉnh nào dự thi tỉnh đó, các tình nguyện viên Tiếp sức mùa thi vì thế cũng đỡ vất vả hơn mọi năm.

Song nhiều hình ảnh đẹp của các tình nguyện viên đã làm cho mùa thi trở nên sôi động và ý nghĩa hơn rất nhiều.

Dưới đây là chùm ảnh đẹp của tình nguyện viên Tiếp sức mùa thi tại TPHCM:

Các tình nguyện viên Tiếp sức mùa thi vẽ tranh cổ vũ sĩ tử.
Những bức tranh ngộ nghĩnh cổ vũ sĩ tử.
Ngoài vẽ tranh, các tình nguyện viên Tiếp sức mùa thi của trường ĐH Sư phạm TPHCM còn làm các túi đậu đỏ hay con hạc giấy kèm với những lời chúc may mắn tặng thí sinh trước giờ vào phòng thi.
Trong ngày làm thủ tục thi 21/6, cơn mưa bất ngờ đổ xuống khiến nhiều thí sinh “mắc kẹt” trong trường. Nhiều tình nguyện viên đã đội mưa, che dù cho thí sinh để các em có sức khỏe tốt cho kỳ thi.
Các tình nguyện viên dầm mình dưới những cơn mưa trong các ngày thi.
Tại điểm thi THPT Hàn Thuyên (phường 10, quận Phú Nhuận), thí sinh Phương Linh chân phải bị bó bột, chống nạng được sinh viên Nguyễn Công Thành (Sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Văn Hiến), tình nguyện viên tiếp sức mùa thi tại điểm thi này cõng lên phòng thi.
Việc dầm mưa, dãi nắng trong những ngày thi khiến không ít bạn tình nguyện viên cảm nắng, kiệt sức.
Bên cạnh các hoạt động của sinh viên, thì các bộ ngành cũng tích cực lo lắng cho đời sống và nhu cầu ăn uống của sinh viên và học sinh.
Theo đó, năm 2017 tỉnh Bến Tre có 7.416 thí sinh đăng ký dự thi ĐH tại cụm thi do Trường ĐH Luật TP.HCM chủ trì tổ chức. Trong tổng số 30.327 lượt dự thi 8 môn thì môn văn có lượt thí sinh dự thi nhiều nhất với 7.142 lượt, trong khi môn ngoại ngữ thí sinh dự thi ít nhất với 1.598 lượt.
Địa phương này còn có cụm thi tốt nghiệp do Sở GD-ĐT Bến Tre chủ trì và Trường ĐH Mở TP.HCM phối hợp tổ chức. Cụm thi này có 2.377 thí sinh dự thi tại 7 điểm thi, với 129 cán bộ coi thi từ trường ĐH và 124 cán bộ của Sở. Ông Lê Văn Chín, Phó giám đốc Sở GD-ĐT Bến Tre, cho biết khó khăn được hội đồng thi này nêu ra là chỗ nghỉ giá rẻ và miễn phí giới thiệu cho thí sinh chưa đảm bảo đáp ứng nhu cầu.
Tiến sĩ Trần Hoàng Hải, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM, cho biết trường có 624 cán bộ coi thi, trong đó ĐH Luật chiếm 50,6%, đúng quy định của Bộ. Về chấm thi, ông Hải cho biết sẽ đưa toàn bộ bài thi về TP.HCM chấm. Ban đầu trường định mời giáo viên các trường THPT chấm tự luận, tuy nhiên cuối cùng chọn phương án nhờ Trường ĐH Sư phạm TP.HCM chấm toàn bộ bài tự luận, bài thi trắc nghiệm do ĐH Quốc gia TP.HCM chấm.
Tiến sĩ Hải cho biết thêm tình hình thời tiết hiện nay rất thất thường, nhất là kỳ thi diễn ra vào tháng 7 thường có giông bão và nguy cơ mất điện. Qua khảo sát về phương án dự phòng máy phát điện tại 9 điểm thi thì có 5 điểm không có máy phát điện đấu nối mạng điện toàn trường tại các điểm thi: THPT chuyên Bến Tre, THCS Phú Hưng, THCS Mỹ Hóa, THCS Vĩnh Phúc và THCS Bến Tre. Cũng theo ông Hải, trường đã ký hợp đồng với 5 khách sạn và thuê công ty nấu cơm hộp cho cán bộ coi thi và giám sát. Tuy nhiên ông Hải cho biết vẫn hết sức lo lắng về vấn đề đảm bảo an toàn thực phẩm.
Do đó, cục An toàn thực phẩm cũng đã có công văn gửi cho toàn bộ ngành và tiếp sức mùa thi về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tìm hiểu thêm vệ sinh an toàn thực phẩm vui lòng xem tại:

Tháng 6, 7 hàng năm là thời điểm mùa thi tập trung của học sinh, sinh viên ở các cấp trên toàn quốc. Nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố gia tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn, những trung tâm giáo dục đào tạo vùng, miền, khu vực.

Đây cũng là thời gian của mùa Hè với thời tiết nóng, ẩm tạo điều kiện thuận lợi để thực phẩm, thức ăn bị ô nhiễm của các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố và dẫn đến nguy cơ ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm gây ảnh hưởng tới sức khỏe của học sinh, sinh viên.

Để chủ động kiểm soát an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm trong mùa thi năm nay, Cục An toàn thực phẩm đã ban hành văn bản số 1345/ATTP-NĐ đề nghị Sở Y tế các tỉnh/thành phố phối hợp với các ngành chức năng tại địa phương và chỉ đạo triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nội dung như: Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về kiến thức, nâng cao trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm, biện pháp phòng chống ngộ độc thực phẩm. Chỉ đạo các đơn vị chức năng chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm . Tổ chức phối hợp liên ngành tiến hành thanh tra, kiểm tra các cơ sở bếp ăn tập thể, căng tin của trường học, quán ăn vỉa hè, thức ăn đường phố,… Phát hiện sớm và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo đúng quy định. Công khai các vi phạm trên phương tiện thông tin để kịp thời cảnh báo cho cộng đồng. Xây dựng phương án, kế hoạch ứng phó, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, trang thiết bị chuyên môn, vật tư và phương tiện để tổ chức cấp cứu, điều trị, điều tra và xử lý kịp thời khi có ngộ độc thực phẩm xảy ra

TOP +10 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Lúa Quê Em Mới Nhất 2017

TOP 10 bài văn thuyết minh về cây lúa quê em, cây lúa nước Việt Nam đã in sâu vào tiềm thức mỗi người, mỗi đứa trẻ. Hình ảnh cây lúa cùng như những đứa trẻ lớn lên từng ngày qua năm tháng với đồng quê trong xanh, hương lúa thơm ngát một vùng trời. Bài văn thuyết minh về cây lúa quê em muốn gửi gắm hay lời nhắn nhủ muốn các e luôn nhớ về quê hương đất nước con người, không quyên đi nguồn cội nơi mình đã sinh ra đặc biệt là cây lúa, những cánh đồng hay những hành tre đều mang những kỉ ức tuổi thơ không bao giờ quyên.

Hãy cùng Tiepsucmuathi.edu.vn cùng giúp các bạn tìm hiểu rõ hơn về hình ảnh cây lúa Việt Nam, cũng như bài văn thuyết mình về cây lúa để bạn học tốt hơn và nhớ nhé đừng quyên những kí ức tuổi thơ, kí ức về cây lúa đã cùng ta trưởng thành trên con đường đời.

Bao xa cách nay về thăm lại
Cánh đồng làng nhẫn nại công cha
Ngạt ngào hương lúa toả xa
Đượm mồ hôi mẹ rớt qua tháng ngày !
TOP +10 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Lúa Quê Em Mới Nhất 2017

Bài văn thuyết minh về cây lúa quê em mới nhất 2017

Các bạn đã sẵn sàng chưa ? Vậy chúng ta hãy cùng bắt vào thuyết minh về cây lúa Việt Nam nhé. Cũng như ao bài văn khác đều có các phần mở bài, thân bài, kết bài để tạo nên môt bài văn thuyết minh đầy đủ nhất. Hãy học hỏi những bài thuyết minh dưới để các bạn có ý tưởng hay cho bài văn phân tích của mình.

Bài Làm 1  : Bạn hãy thuyết minh về cây lúa nước của làng quê Việt Nam

Mở bài : ?ừ ??à? đờ? ???, ?â? ?ú? đã ?ắ? ?ó ??â? ???ế? ?ớ? ??? ??ườ?, ?à?? ??ê ??ệ? ???. ?ằ?? ?ạ? ?ạ? – ?ạ? ??ọ? ??ờ? ??? ???, ???? ??ê? đã ?à? ?ê? ?á?? ??ư??, ?á?? ??ầ? ?ượ?? ??ư?? ??? ??ờ? ?à đấ? – để ?í?? ?â?? ??? ?ù??. ??í?? ?ì ??ế, ?â? ?ú? ?ướ? đã ??ở ??à?? ?ộ? ?é? đẹ? ?ă? ?ó? ?ủ? ??ườ? ??ệ?. ?ì?? ả?? ?ủ? ?â? ?ú? ?à ??ườ? ?ô?? ?â? đã ??ở ??à?? ??ữ?? ?ả?? ?à? ??ô?? ??ể ???ế? ????? ?ứ? ????? ?ủ? ?à?? ??ê ??ệ? ??? ?â? ??ờ ?à ?ã? ?ã? ?ề ???.

?ú? ?à ?ộ? ??ự? ?ậ? ??ý ??á, ?à ?â? ??ồ?? ???? ??ọ?? ??ấ? ????? ??ó? ??ũ ?ố?, ?à ?â? ?ươ?? ??ự? ??í?? ?ủ? ??ườ? ??ệ? ??? ?ó? ??ê?? ?à ??ườ? ?â? ??â? Á ?ó? ?????. ?ú? ???ộ? ??à? ??â? ??ả?. ??â? ?â? ?ú? ??ò? ???? ??à?? ?ừ?? ?ó?? ?à ?ắ?. ?ó?? ??ườ?? ?ỗ?? ??ộ?, ??ỉ ?ó ??ầ? ?ắ? ?à đặ?. ?á ?ú? ?ó ???ế? ?à? ?à ?ỏ??,?ọ? ??? ????? ??â?, ?ặ? ?á ??á?, ?â? ?á ??ạ? ???? ????. ?ù? ??ờ? ?ì ???? ??ưở??, ??á? ???ề? ?à ?á ?ú? ?ó ?à? ??á? ????. ??? ?ú? ??í? ??ả ???? ?à? ?à??. ?ễ ?ủ? ?â? ?ú? ??ô?? ?à? ?ắ?, ??ườ?? ?ọ? ?ớ? ???? ??à?? ??ù? ?á? ??ặ? ?à? ?ù? để ??ữ ??? ??â? ?ú? ??ẳ?? đồ?? ??ờ? ?ú? ?ưỡ?? ??ấ? ??ô? ??â? ?â?. ??? ?ú? ??ỏ ??ắ?, ?ọ? ??à?? ???ề? ??ù? ?à?. Đ?ề? đặ? ??ệ? ?ủ? ?â? ?ú? ?à í? ?? để ý đế?. ??? ?ú? ?ũ?? ??í?? ?à ??ả ?ú? đồ?? ??ờ? ??ở ??à?? ?ạ? ?ú? ??? ?à?. ??? ?ú? ??ô?? ?ó ?á?? ???, ??ỉ ?ó ??ữ?? ?ả? ??ỏ ??? ?ọ? ?ấ? ???ỵ ở ?ê? ?????. ?ú? ??? ?ú? ?ở, đầ? ???ỵ ??ò ?? ???à?, ?ó ?ộ? ??ù? ?ô?? để ??é? ?ạ? ??ấ?. ??? ?ú? ?ự ??ụ ??ấ? ?ồ? ??ế? ??à?? ??ả. ??ấ? ???? ?ộ? ????? ??ả ??ô đặ? ?ạ? ?ầ? ?à ??ế? ??à?? ?ạ? ?ú? ??í? ?à??.
??ướ? đâ?, ??ườ? ??ệ? ??ỉ ?ó ??? ?ụ ?ú?: ???ê? ?à ?ù?. ??à? ???, ???? ?ọ? ??á? ???ể?, ?ỗ? ?ă? ?ó ???ề? ?ụ ?ố? ??ế? ????. ??ồ?? ?ú? ??ả? ??? ???ề? ???? đ?ạ?: ?ừ ?ạ? ??ó? ?ả? ?ầ? ??à?? ?â? ?ạ; ?ồ? ??ổ ?â? ?ạ ?ấ? ??ố?? ??ộ??. ??ộ?? ??ả? ?à? ?ừ?, ?à? đấ?, ?ó? ??â?. ??ộ?? ??ả? ?â? ?ấ? ?ướ?. ??? ?ú? đẻ ??á?? ??à?? ?ừ?? ?ụ? (đ??? ??ì ??? ?á?) ?ạ? ??ả? ?à? ?ỏ, ?ó? ??â?, ??ệ? ?â? ?ọ. ?ồ? ?ú? ?à? đò??, ??ổ ?ô?? ?ồ? ?ạ? ?ú? ??ắ? ?ạ?, ??í? ?à??. ??ườ? ?ô?? ?â? ?ắ? ?ú? ?ề ??ố? ?ạ?, ??ơ? ??ô, ??? ?á? ??à?? ?ạ? ?ạ?… ??ế? ??? ?ô?? ?ứ? ?ủ? ??à ?ô?? để ?ó ?ạ? ?ạ? ??ô? ?ố?? ??? ??ườ?.

?ạ? ?ạ? ?ó ??? ??ò ?ô ?ù?? ???? ??ọ?? đố? ?ớ? đờ? ?ố?? ?ậ? ??ấ? ?ủ? ??ú?? ??. ?ạ? ?ạ? ???? ?ấ? ??ấ? ???? ?ưỡ?? ???ế? ?ế?, ?ấ? ?ầ? ???ế? ??? ?ơ ??ể ??? ??ườ?. ???à? ??ệ? ??ô? ?ố?? ??? ??ườ?, ?ạ? ?ú?, ?ạ? ?ạ? ?ò? ?ắ? ?ó ?ớ? đờ? ?ố?? ???? ??ầ? ?ủ? ??ườ? ??ệ?. ?ó ???ề? ??ạ? ?ạ?: ?ạ? ?ẻ, ?ạ? ?ế?… ?ạ? ?ế? ?ù?? ?à? ?á?? ??ư??, ?á?? ??ầ? ?à ??? ??ạ? ?á?? ????ề? ??ố?? ?ủ? ??? ??ườ? ??ệ? ??? ????? ?ị? ?ế? ????ê? Đá?. ?á?? ??ư??, ?á?? ??ầ? ?ò? ?ắ? ??ề? ?ớ? ???? ??ê? ??ờ? ??? ?ù?? ?ự?? ?ướ?. ?ú? ?ế? ??? ?ò? ?ù?? để ?à? ?ố? – ?ộ? ??ứ? ??à ????? ?ị?? ?ủ? ??ườ? ?à ?ộ?. ?ạ? ?ế? ?ù?? để đồ ?á? ??ạ? ?ô? – ?ộ? ?ó? đồ ?ễ ??ô?? ??ể ???ế? ??ê? ?à? ??ờ ?ủ? ??ườ? ??ệ? ??? ????? ??à? ?ế? ?à ??à? ?ú?? ??ỗ ?ổ ??ê?. Đồ?? ??ờ? ?ô? ?ũ?? ?à ??ứ? ??à ???? ???ộ? ?ằ?? ??à?. ?ừ ?ú? ?ạ?, ??ườ? ??ệ? ?ò? ?à? ?ấ? ???ề? ??ạ? ?á?? ??ư: ?á?? đ?, ?á?? đú?, ?á?? ??ò, ?á?? ?ẻ, ?á?? ?ế?, ?á?? ??ở, ??á?… ?ế? ??ô?? ?ó ?ạ?, ??ậ? ?à ??ó ??ă? ????? ??ệ? ?ạ? ?ê? ?ề? ?ă? ?ó? ẩ? ??ự? ???? ?ả? ?ắ? ?ă? ?ó? ??ệ? ???.
??à? ???, ?ướ? ?? đã ??? ?ạ? đượ? ?ầ? ?0 ??ố?? ?ú? đượ? ?ô?? ??ậ? ?à ??ố?? ?ú? ??ố? ???. ??ệ? ??? ?ừ ?ộ? ?ướ? đó? ???è? đã ??ở ??à?? ?ộ? ?ướ? đứ?? ??ứ ? ??ê? ??ế ??ớ? ??? ??á? ??? ?ề ??ấ? ??ẩ? ?ạ?.

?ó? ?ạ?, ?â? ?ú? ?ó ?ầ? ???? ??ọ?? ?ấ? ?ớ? đố? ?ớ? ?ề? ???? ?ế ?ướ? ??à ??ủ ?ế? ?ò? ?ự? ?à? ?ô?? ????ệ?. ?â? ?ú? ??? đờ? ?à ?ạ? ??â? ???ế? ?ủ? ??ườ? ?ô?? ?â? ??ệ? ???, ??ô?? ??ỉ ?ề ?ặ? ?ậ? ??ấ? ?à ?ò? ?ả ?ề ?ặ? ???? ??ầ?. ?ã? ?ã? ?ẫ? ?ò? ???? ?ọ? ??ườ? ??ắ? ???? ??ữ?? ?ầ? đ?ệ? ?? ??? ??ấ? ???á?? ?ó?? ?ì?? ??? ??â? ?à ?â? ?ú?. Cây lúa chính là những kỉ niệm đầy ắp tiếng cười của của bọn trẻ thôn quê với gắn liền với đời sống thường ngày. Cánh đồng thẳng cảnh cò bay cùng những đứa trẻ chạy nhảy tung tăng  cùng mơi thơm của cây lúa khiến các bạn trẻ không bao giờ quên được.

Bài làm 2 : Tả bài văn về cây lúa quê em (nơi e gọi là ló )

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”.

Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v.

Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng.
Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó.

Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”.
Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất.

Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.

Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trổ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trổ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…

Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!

Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.

Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương. Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước – nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó, gần gũi với người Việt, hồn Việt là lẽ dĩ nhiên.

Bài Làm 3 : Các em Phân tích bài văn cây lúa quê em 
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.

Đất nước Việt Nam – cái nôi của nền văn minh lúa nước, bên mỗi xóm thôn bản làng, những cánh đồng xanh thẳm trải dài tít tận chân mây như dấu hiệu cho mọi du khách nhận ra đất nước nông nghiệp với sự gắn bó của con người cùng cây lúa xanh tươi.

úa là cách gọi thông thường không biết tự bao giờ trong từ điển Việt Nam, để chỉ loài cây lương thực chính trong ươm mầm từ những hạt thóc vàng căng mẩy. Hạt thóc ngâm nước ủ lên mầm gieo xuống lớp bùn sếch sang trở thành những cây mạ xanh non. Sau khi làm đất cày bừa kĩ, mạ non được bó lại như thằng bé lên ba con còn theo mẹ ra đồng và được cắm xuống bùn sâu qua bàn tay chăm sóc của người nông dân từng ngày, từng giờ lên xanh tươi tốt thành những ruộng lúa mênh mông bờ nối bờ thăm thẳm.

Lúa được phát triển theo ba giai đoạn chính: Giai đoạn mẹ non, mảnh mai yếu ớt như em bé sơ sinh run rẩy trước nắng mai hay gió bão lạnh lẽo. Những ngày mùa đông buốt giá, gieo mạ rồi để chuẩn bị cho vụ chiêm xuân, chẳng có người nông dân nào không xuýt xoa thương cho đám mạ con phải chịu cảnh rét buốt, thế là bao túi ni lông che kín bốn xung quanh bờ thửa ngăn cho cái rét không làm lạnh chân mạ.

Nắng hửng trời quan, bà già mùa đông mệt mỏi đi nghỉ ngơi nhường chỗ cho chị mùa xuân nhảy múa ca hát cùng lũ chim trên cành, bà con xã viên tưng bừng phấn khởi sau cái tết đón năm mới cùng với mạ non hồi sức vẫn kiên nhẫn vượt qua rét mướt, đã nô nức ra đồng làm việc. Họ đố nhau về bó mạ:

Việt Nam đất nước quê hương tôi

Mía ngọt chè xanh qua những nương đồi

Đồng xanh lúa rập rờn biển cả…

Thế là người cày người cấy, trâu bò làm bạn với nhà nông, chỉ trong vòng một tuần những cánh đồng đất ải trắng trước đây đã thành những ruộng lúa xanh non. Lúa cứ thế lớn lên dưới bàn tay chăm sóc nâng niu của các bác nông dân, trưởng thành đến thì con gái, đẻ nhánh sinh sôi thành những khóm to chật ruộng. Rì rào rì rào… lúa thì thầm ào ào trong gió như kể chuyện ngàn xưa. Những chiếc lá lúa dài giống hình lưỡi lê nhưng yểu điệu duyên dáng như trăm ngàn cánh tay đùa giỡn với gió, sóng lúa nhấp nhô giữa buổi chiều hạ hay nắng sớm mùa xuân gợi bức tranh đồng quê thi vị mượt mà. Đó là đề tài quen thuộc của thơ và nhạc du dương:

Chẳng mấy mốc ba tháng nông nhàn đã qua, lúa vào đòng làm hạt, mùi thơm của lúa nếp, của gạo mới thoang thoảng đâu đây. Khắp cánh đồng người ta chỉ thấy một màu vàng rực tươi rói, những bông lúa hạt đều tăm tắp uốn cong như lưỡi câu báo hiệu một mùa vàng bội thu. Ngày mùa cả làng quê toàn màu vàng, ngoài đồng lúa vàng xuộm, dưới sân rơm và thóc vàng ròn, chú cún vàng nhảy nhót lăng xăng như chia sẻ cùng chủ. Ai mà chẳng vui khi thành quả lao động của mình đến ngày được gặt hái.

Cứ thế một hay hai vụ lúa trở thành cây lương thực chính của người nông dân.: Vụ chiêm xuân từ tháng giêng đến tháng 4, tháng 5; vụ mùa từ tháng 6 đến tháng 9, tháng 10. Cây lúa đã đem đến cho đất nước một nguồn thu lớn, mỗi hécta cho ba tấn thóc, không chỉ là cung cấp lương thực đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong nước mà nó còn là nguồn xuất khẩu gạo.

Chúng ta tự hào có những cánh đồng lúa thóc quê hương như cánh đồng năm tấn ở Thái Bình, Đồng Tháp Mười ở đồng bằng Sông Cửu Long. Năm tháng trôi qua bước sang thế kỉ XXI, Việt Nam đi dần vào xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng hình ảnh cây lúa và giá trị tiềm năng của nó vẫn là vị trí số một trong quá trình phát triển đất nước chẳng thế mà nó được lấy làm biểu tượng của các nước trong khối ASEAN như một báu vật quý.

Bài làm 3 : Thuyết minh về cay lúa quê em – Văn học lớp 9

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”. Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay.

Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v.. – Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay.

Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng. Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó. Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”. Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa.

Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất. Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người.

Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh. Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trỗ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trỗ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng… Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to.

Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ! Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa.

Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên. Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.

Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó ,gần gũi với người Việt,hồn Việt là lẽ dĩ nhiên. Dưới đây là 1 đoạn thuyết minh về cây lúa mà mình sưu tầm được,bạn có thể tham khảo thêm: Từ ngàn đời nay,cây lúa đã gắn bó với con người,làng quê Việt nam.Và đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh-nền văn minh lúa nước. Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa và tinh thần.hạt lúa và người nông dân cần cù,mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt nam hiện nay và mãi mãi về sau Là cây trồng thuộc nhóm ngũ cốc,lúa cũng là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói riêng và người dân châu á nói chung.Cây lúa ,hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống.

Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc quan trọng không thể thiếu sự góp mặt của cây lúa,chỉ có điều nó được chế biến dưới dạng này hay dạng khác.Không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế,xã hội mà còn có giá trị lịch sử,bởi lich sử phát triển của cây lúa gắn với lịch sử phát triển của cả dân tộc VN,in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước.Trước đây cây lúa hạt gạo chỉ đem lại no đủ cho con người, thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành thứ hàng hóa có giá trị. Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước,hạt gạo gắn liền với sự phát triển của dân tộc…..cho đến nay vẫn là nền kinh tế của cả nước.

Chiều về đứng ở sườn đê
Hương thơm hạt thóc vọng về tới nơi
Sơn hào hải vị đất trời
Cơm quê mẹ nấu cả đời khó quên

Trên đây là một số bài văn thuyết minh về cây lúa Việt Nam được nhiều em học sinh làm bài được sưu tầm lại cho các bạn, hãy tham khảo những lời văn hay, ý đẹp để bạn có thể có mọt bài phân tích về cây lúa hay nhất cho bản thân. Cây lúa sẽ mãi mãi là người bạn tri kỉ của nông dân cũng như người bạn đầy kỉ niệm thời thơ ấu của những đứa trẻ. Vậy hãy cùng theo dõi chúng tôi để bạn có thể tham khảo những bài văn hay, mới nhất mà chúng tôi cập nhật nhé.

Hà Nội thiết lập đường dây nóng hỗ trợ thí sinh trong kỳ thi THPT Quốc gia

Các thí sinh có thể liên lạc đến đường dây nóng để được hỗ trợ thông tin các cụm thi, lịch thi, lịch trình xe bus, nhà trọ giá rẻ an toàn… trong thời gian diễn ra kỳ thi

Chỉ vài ngày nữa, 75.000 thí sinh trên khắp Thủ đô Hà Nội sẽ bước vào kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia 2016. Để tạo điều kiện tốt nhất cũng như động viên tinh thần cho các sĩ tử, chương trình Tiếp sức mùa thi năm nay do Thành đoàn Hà Nội – Hội sinh viên thành phố tổ chức sẽ có sự tham gia của gần 13.000 tình nguyện viên nhiệt huyết, năng động được phủ khắp 104 điểm trên địa bàn thành phố. Các tình nguyện viên sẽ có mặt tại các điểm trung chuyển xe bus, các tuyến xe bus, 5 cụm thi đại học với 74 điểm thi và 1 cụm thi tốt nghiệp với 31 điểm thi tại 23 quận, huyện để giúp đỡ các thí sinh thuận lợi bước vào kỳ thi.
Bên cạnh các chương trình ý nghĩa như Mỗi tuyến xe bus 1 tình nguyện viên, đội xe tình nguyện Áo xanh chở ước mơ hồng, Đội phản ứng nhanh giao thông hay Cùng bạn đi thi thì Thành đoàn – Hội sinh viên thành phố Hà Nội còn hỗ trợ cho thí sinh và người nhà về thông tin của các cụm thi, địa điểm thi, kinh nghiệm thi cử, lịch trình xe bus, thông tin về nhà trọ, chỗ ở an toàn, giá rẻ, miễn phí, thuận tiện cho việc di chuyển tới các điểm thi; quán ăn giá rẻ (hoặc miễn phí), đảm bảo an toàn, vệ sinh. Tất cả những thông tin hữu ích này đều được cập nhật thường xuyên và đăng tải trên website chính thức của chương trình: http://tiepsucmuathi.edu.vn .

Nguồn tin: vtv

Thí sinh kết thúc buổi thi môn Văn, nhiều người bất ngờ vì “đoán sai đề”

Đề Văn năm nay của cuộc thi Quốc gia THPT được đánh giá là khá bất ngờ với tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân)

Thí sinh kết thúc buổi thi môn Văn sáng nay

Sáng nay, các sĩ tử đã bước vào ngày thi môn Văn của cuộc thi Quốc gia THPT 2016. Kết thúc buổi thi, đa số đều cho rằng, đề Văn năm nay đã khiến nhiều bạn gặp một chút khó khăn, khi chọn tác phẩm Vợ nhặt, của nhà văn Kim Lân.

ĐH Bách Khoa 

Hầu hết những thí sinh ra sớm đều cho biết, rất bất ngờ khi đề Văn năm nay lại ra Vợ nhặt.

Những tốp thí sinh ra sớm nhất.

Và đây là thí sinh đầu tiên ra khỏi phòng thi.

Học viện Ngân hàng

1 trong số những thí sinh ra sớm nhất cho biết khá sốc vì đoán sai đề Văn năm nay. “Mình rất bất ngờ vì đề thi rơi vào truyện Vợ nhặt của Kim Lân. Trước đó, mình đoán sẽ thi tác phẩm Sóng của Xuân Quỳnh” – trích chia sẻ của bạn Hà.

Trong khi đó, nữ sinh Lê Hương đánh giá đề thi năm nay khó hơn dự đoán:. “Phần luận về lòng dũng cảm hay hèn nhát cũng khá trừu tượng và không cụ thể, sát thực tế như mọi năm”

Nam thí sinh ra khỏi phòng thi sớm nhất trong tiếng chúc mừng của Tình nguyện viên.

Tại hội điểm thi trường THPT Trưng Vương

Ngay từ lúc hơn 9h đã có nhiều nhóm thí sinh hoàn tất bài làm của mình và liên tục ra về rải rác sau đó dù vẫn chưa kết thúc thời gian làm bài thi.

Thí sinh đa số nhận xét đề năm nay không quá khó nhưng có hơi bất ngờ vì nằm ngoài dự kiến. Trong đó câu số 10 về Vợ Nhặt của Kim Lân là phần các bạn cho rằng khó nhất.

Một thí sinh học trường Việt Úc cho biết: “Mình tập trung ôn nhiều về thơ và tác giả, trên lớp cũng thế nên khi cho ra văn xuôi mình làm không được tốt lắm. Tiếc là không được ôn kỹ nên bài chưa được sát cho lắm”.

Tuy nhiên nhìn chung đa số các bạn đều có thể giải được toàn bộ đề Văn năm nay.

Nguồn tin: Theo Team PV / Trí Thức Trẻ