Hướng dẫn soạn bài Lặng lẽ Sa Pa ngắn gọn và đầy đủ

Nhắc đến “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long chúng ta chắc hẳn không thể quên được một  tác phẩm xoay xung quanh câu chuyện về cuộc gặp gỡ của bốn nhân vật: anh thanh niên, ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ và người lái xe. Qua cuộc gặp gỡ tình cờ ấy, hình ảnh của anh thanh niên hiện lên với nhiều phẩm chất tốt đẹp, đáng trân trọng.

tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật tài liệu dưới đây hướng dẫn các bạn soạn bài Lặng lẽ Sa Pa một cách ngắn gọn và đầy đủ. Hi vọng với tài liệu mà chúng tôi cập nhật dưới đây sẽ bổ sung kiến thức cho các bạn để học bài một cách tốt hơn.

Câu 1:

Lặng lẽ Sa Pa có một cốt truyện đơn giản. Chỉ là cuộc hội ngộ giữa bốn người: ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên phụ trách trạm khí tượng trên núi Yên Sơn. Tác giả không hề cho biết tên của các nhân vật. Qua cuộc hội ngộ của những con người “không có tên” ấy, hiện ra chân dung con người lao động thầm lặng, trên cái nền lặng lẽ thơ mộng của Sa Pa. Câu chuyện về cuộc hội ngộ chỉ diễn ra trong vòng ba mươi phút, người hoạ sĩ chỉ kịp phác thảo bức chân dung của chàng thanh niên, của những con người đang cống hiến tuổi xuân, ngày đêm lặng lẽ làm việc thì đã hiện ra rõ nét. Chân dung ấy hiện ra trước hết qua sự giới thiệu của bác lái xe vui tính, qua sự quan sát, cảm nhận, suy ngẫm nhà nghề của bác hoạ sĩ, qua sự cảm nhận của cô gái trẻ và qua sự tự hoạ của chàng trai.

Câu 2:

Anh thanh niên là nhân vật chính của truyện. Nhân vật này không xuất hiện ở đầu truyện mà chỉ hiện ra trong cuộc gặp gỡ với ông họa sĩ, cô gái trẻ, bác lái xe khi xe của họ dừng lại nghỉ. Nhân vật anh thanh niên hiện ra qua suy nghĩ đánh giá của các nhân vật khác như bác lái xe, ông họa sĩ, cô kỹ sư. Nghĩa là hình ảnh anh thanh niên được soi rọi từ nhiều phía, làm nổi bật những nét đẹp đáng yêu, đáng mến. Anh vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Ta hãy xem hoàn cảnh sống và làm việc của anh : Anh sống một mình trên núi cao hai nghìn sáu trăm mét, quanh năm suốt tháng với cỏ cây muông thú. Công viêc của anh là: “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động của mặt đất, tham gia vào việc dự báo thời tiết hằng ngày phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Chàng trai ấy có những phẩm chất thật đáng quý:

– Anh là một người có suy nghĩ đẹp: Anh có quan niệm đúng đắn về hạnh phúc, về lẽ sống. “Khi ta làm việc ta với công việc là đôi, sao lại gọi là một mình được, huống chi việc của cháu găn liền với bao anh em đồng đội dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy nhưng nếu cất nó đi thì cháu buồn đến chết mất”. Chàng trai ấy quan niệm về hạnh phúc với đẹp làm sao! Hạnh phúc là khi anh được “Góp phần phát hiện một đám mây khô giúp không quân ta bắn rơi máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng”. Anh thú nhận “Từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc”. Đấy, với anh hạnh phúc là thế, là được cống hiến cho cuộc đời.

– Anh có hành động đẹp: Anh vượt qua khó khăn gian khổ, sống một mình trên đỉnh núi cao trong sự cô đơn tuyệt đối để làm nhiệm vụ một cách tự giác, có kết quả cao. Ta hình dung cảnh “Một giờ sáng”, trời mưa tuyết, trong cái im lặng rợn người của Sa Pa “Một mình anh xách đèn đi ra vườn để đo chấn động của vỏ quả đất trên máy, báo về “nhà” góp phần dự báo thời tiết trong ngày”. Đây là công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, có tinh thần trách nhiệm cao.

– Anh có lối sống đẹp:

+ Chỉ có một mình trên đỉnh núi cao anh vẫn tổ chức sắp xếp cuộc sống ngăn nắp chủ động. Anh là làm đẹp nơi mình bằng cách trồng hoa. Không chỉ có thế, anh còn nuôi gà, tự học, tự đọc sách ngoài giờ làm việc.

+ Anh sống rất chân thành cởi mở, quan tâm đến mọi người, khao khát được nói chuyện với mọi người, quý trọng tình cảm của người khác. Anh gửi quà cho vợ bác lái xe như một lẽ thường, anh xúc động khi có khách lên thăm. Con người ấy cũng luôn khiêm tốn và thành thực, lúc nào anh cũng cảm thấy những đóng góp của mình là nhỏ bé. Vì vậy khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh đã giới thiệu những người khác đáng khâm phục hơn.

Như vậy, dù anh chỉ xuất hiện trong một khoảng khắc ngắn của truyện, ta cũng đã có thể hình dung ra chân dung một nhân vật với những nét đẹp trong suy nghĩ, hành động, tình cảm, cách sống. Anh là người rất tiêu biểu cho tầng lớp thanh niên trong cuộc xây dựng đất nước ở nơi khó khăn gian khổ.

>>>Tham khảo bài viết Phân tích truyện Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long để làm soạn bài chi tiết và đầy đủ hơn.

Câu 3:

Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy trong Lặng lẽ Sa Pa, nhân vật hầu như chỉ lặng lẽ nghe và suy ngẫm. Đó là người hoạ sĩ. Trước chàng trai trẻ trung yêu đời, hiểu và yêu công việc thầm lặng của mình, người hoạ sĩ nhận ra rằng Sa Pa, cái tên mà chỉ nghe đến “người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi”, có những con người làm việc và lo nghĩ cho đất nước. Thoạt đầu, đáp lại lời bác lái xe, người hoạ sĩ nói: “Thích chứ, thích lắm. Thế nào tôi cũng về ở hẳn đấy. Tôi đã định thế. Nhưng bây giờ chưa phải lúc”. Sau khi gặp, được nghe chàng thanh niên nói, được chứng kiến và hiểu cuộc sống của những con người đang làm việc thực sự, cống hiến thực sự, quan niệm của người hoạ sĩ đã thay đổi. Lúc chia tay, người hoạ sĩ già còn chụp lấy tay người thanh niên lắc mạnh và nói: “Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh mấy hôm được chứ?” Đây không chỉ là sự thay đổi trong cái nhìn về Sa Pa mà còn là sự thay đổi trong quan niệm của một nghệ sĩ về cuộc sống, về cái đẹp.

Câu 4:

a. Chất trữ tình của tác phẩm toát lên từ vẻ đẹp của thiên nhiên Sa Pa thơ mộng là “Những rặng đào, những đàn bò lang, cổ có đeo chuông ở các đồng cỏ trong thung lũng”. Đó là vẻ đẹp kỳ lạ của “Nắng bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây từ kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng”. Đó là cảnh “Mây bị nắng xua, luồn cả và gầm xe”. Rồi thì “những bông hoa đơn, thược dược vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong, mọc ngay giữa mùa hè”, “nắng mạ bạc con đèo, đốt cháy rừng cây, hừng hực như một bó đuốc lớn…

b. Chất trữ tình toát lên từ vẻ đẹp tâm hồn của những con người trong truyện :

+ Anh thanh niên có suy nghĩ, lối sống, hành động đẹp như thơ.

+ Tâm hồn cô kỹ sư trẻ bừng dậy một tình cảm lớn lao đẹp đẽ khi gặp ánh sáng đẹp đẽ từ cuộc sống, tâm hồn anh thanh niên chiếu rọi. Cả ấn tượng hàm ơn khó tả dạt lên trong lòng cô gái, không phải chỉ vì bó hoa anh thanh niên tặng mà còn vì “Một bó hoa này khác nữa, bó hoa của những háo hức, mơ mộng ngẫu nhiên anh thêm cho cô. Và còn vì một cái gì đó nữa lúc cô chưa kịp nghĩ kỹ”.

+ Ông họa sĩ bừng lên khát khao sáng tác, trân trọng xúc động trước anh thanh niên.

c. Tác dụng : Chất trữ tình tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm làm cho truyện như một bài thơ. Chất thơ bàng bạc tron toàn truyện, từ phong cảnh đẹp đẽ thơ mộng của thiên nhiên vùng núi cao đến hình ảnh những người đang sống, làm việc trong cái lặng lẽ mà không hề cô độc bởi sự gắn bó của họ với cuộc đời, với mọi người, với đất nước. Tạo không khí thân tình cho tác phẩm nâng cao ý nghĩa và vẻ đẹp của sự vật, con người rất bình dị được miêu tả trong truyện, làm chủ đề tư tưởng của truyện được bộc lỗ rõ nét và sâu sắc.

Câu 5:

Truyện Lặng lẽ Sa Pa ca ngợi những con người vô danh, hằng ngày khiêm nhường, lặng lẽ cống hiến hết mình cho Tổ quốc một cách thầm lặng. Trong số những con người đó nổi bật lên hình ảnh anh thanh niên làm công tác khí tượng, tự giác vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ và sống đẹp, đem lại niềm vui cho mọi người.

Soạn bài Lặng lẽ Sa Pa – truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thành Long là một nhan đề giàu chất thơ, thể hiện rõ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.  Bề ngoài Sa Pa có vẻ lặng lẽ, thơ mộng. Đó là xứ sở của sương mù, của những dinh thự cũ kĩ, nơi mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Ở đó, có những cảnh đẹp nên thơ mê hồn, có những đàn bò lang cổ đeo chuông ung dung gặm cỏ, có những rừng thông đẹp lunh linh kì ảo dưới ánh nắng mặt trời…Cái lặng lẽ của Sa Pa còn ẩn chứa sự lặng lẽ âm thầm đầy khiêm nhường mà cao cả của những con người đang ngày đêm nhiệt tình, hăng say lao động góp sức xây dựng cuộc sống mới.

>>>Để hiểu rõ hơn về những con người vô danh hằng ngày hiêm nhường, lặng lẽ cống hiến hết mình cho Tổ quốc các bạn hãy tham khảo bài văn mẫu Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa này nhé!

Top Những bài văn hay Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

Bài thơ về tiểu đội xe không kính, chỉ với nhan để cũng đã tạo được sự độc đáo, thu hút chú ý của người đọc. Xuất hiện trong suy nghĩ của bạn đọc một dấu hỏi ngay ở nhan đề: Vì sao lại là Tiểu đội xe không kính?. Là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước, Phạm Tiến Duật đem đến cho người đọc sự vui tươi, hồn nhiên, tinh nghịch trong thơ ông. Và Bài thơ về tiểu đội xe không kính cũng trở thành đề tài quen thuộc của các bài thi được các bạn học sinh  tìm đọc tài liệu.

Hiểu được điều đó tiepsucmuathi.edu.vn tổng hợp các bài phân tích về bài thơ về tiểu đội xe không kính dưới đây được các bạn sử dụng nhiều để làm tài liệu tham khảo, hi vọng với những bài viết mà chúng tôi tổng hợp sẽ giúp các bạn học bài một cách hiệu quả hơn. Các bạn cùng tham khảo các bài mẫu làm văn sau đây nhé!

Bài mẫu 1: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

Trong bài thơ này, những chiếc xe không kính là một hình ảnh thực, thực đến trần trụi. Tác giả giải thích nguyên nhân cũng rất thực: “Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”, câu thơ đậm chất văn xuôi lại có giọng thản nhiên, càng gây ra sự chú ý về vẻ khác lạ của những chiếc xe.

Nhan đề Bài thơ về tiểu đội xe không kỉnh khá dài, tưởng như có chỗ thừa. Nhưng vì thế mà rất độc đáo, thu hút sự chú ý. Nhan đề ấy làm nổi bật hình ảnh của bài thơ. Những chiếc xe không kính. Hình ảnh này là sự phát hiện thú vị của tác giả, thể hiện sự gắn bó và am hiểu sâu sắc hiện thực đời sống chiến tranh trên tuyến đường Trường Sơn. Hai chữ “Bàỉ thơ” cho thấy rõ hơn cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính hay là cái hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà điều chủ yếu là Phạm Tiến Duật muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung, vượt lên thiếu thốn, gian khổ, hiểm nguy của chiến tranh.

Những chiếc xe không kính vẫn băng ra chiến trường là một hình ảnh độc đáo của bài thơ.

Hình ảnh xe cộ, tàu thuyền đưa vào thơ văn thường được “mĩ lệ hóa”, “lãng mạn hoá” và thường mang ý nghĩa tượng trưng.

Trong bài thơ này, những chiếc xe không kính là một hình ảnh thực, thực đến trần trụi. Tác giả giải thích nguyên nhân cũng rất thực: “Không có kính không phải là xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”, câu thơ đậm chất văn xuôi lại có giọng thản nhiên, càng gây ra sự chú ý về vẻ khác lạ của những chiếc xe. Cách giải thích của tác giả cho thấy đây là những chiếc xe đã đi qua bom đạn thứ thách, là xe của những con người quả cảm. Cái không bình thường của xe đã được bình thường hóa.

Bom đạn chiến tranh còn làm cho những chiếc xe bị phá hủy, biến dạng đi, trần trụi hơn nữa: “Không có kính, rồi xe không có đèn – Không có mui xe, thùng xe có xước”. Tất cả “không” và “có” ấy (có “xước” cũng là thêm sự hư hại) đều là tổn thất, mất mát, có thế ảnh hưởng đến sự lăn bánh của xe. Nhưng bộ não, linh hồn của xe dường như không phải là máy móc mà là tấm lòng người chiến sĩ nên: “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước – Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Hình ảnh những chiếc xe không kính vốn không phải hiếm trong chiến tranh, nhưng phải có hồn thơ nhạy cảm với nét ngang tàng, tinh nghịch, thích cái lạ như Phạm Tiến Duật mới nhận ra được và đưa nó vào thơ trở thành hình tượng độc đáo của thơ thời chiến tranh chống Mĩ. Hình ảnh này tạo nên cái tứ độc đáo, vừa nói được cái ác liệt, dữ dội của chiến tranh, vừa bộc lộ được phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ trong cuộc chiến tranh khốc liệt chống đế quốc Mĩ. Hình ảnh những chiếc xe không kính trong bài thơ góp phần khắc họa một nét tư thế, chân dung của một dân tộc anh hùng.

Hình ảnh người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kì kháng chiến. chống Mĩ được khắc họa đậm nét trong bài thơ. hình ảnh họ được miêu ta gắn liền với những chiếc xe, đồng thời nổi bật lên trong toàn bài thơ.

Xe không kính là biểu tượng của khó khăn, thiếu thốn, gian khổ. Thiếu đi những điều kiện phương tiện vật chất tối thiểu lại là cơ hội để người linh lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao và. đặc biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp gian khổ, khó khăn.

Người lái xe được miêu tả với những ấn tượng, cảm giác rất cụ thể ngồi trên xe không kính. Với tư thế “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng khung cửa xe không còn kính chắn gió, người lái xe tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài: “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng /Thấy con đường chạy thẳng vào tim / Thấy sao trời và đột ngột cánh chim / như sa như ùa vào buồng lái”. Câu thơ diễn tả được cảm giác về tốc độ của những chiếc xe đang lao nhanh trên đường. Qua khung cửa xe không có kính, không chi mặt đất mà cả bầu trời sao, cánh chim như cũng ùa vào buồng lái. Nhà thơ diễn tả chính xác cái cảm giác mạnh và đột ngột của người ngồi trong buồng lái. Những hình ảnh con đường, sao trời, cánh chim vừa thực, vừa thơ, là cái thi vị nảy sinh trên những con đường bom rơi đạn lửa. Hiện thực thì khốc liệt; mọi thứ có thế va đập, quăng quật vào buồng lái những người chiến sĩ cảm nhận nó bằng một tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, nhạy cảm với cái đẹp, một nghị lực phi thường. Hình ảnh “con dường chạy thẳng vào tim” còn là một khái quát đặc sắc về con đường Trường Sơn, con đường giải phóng miền Nam. Những câu thơ trên hé lộ diện mạo tinh thần thầm kín của người chiến sĩ.

Người chiến sĩ lái xe được khắc họa với những nét tính cách thật cao đẹp. Họ hiện ra trong tư thế ung dung, hiên ngang, tư tin, tự hào:

                                  Ung dung buồng lái ta ngồi,

                                  Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Hai câu thơ sáu chữ nhịp 2/2/2 và chữ “ung dung” đảo lên đầu câu làm nổi bật tư thế ấy. “Nhìn thẳng” là con mắt nhìn có vẻ trang nghiêm, bất khuất, không thẹn với đất, với trời, nhìn thẳng vào gian khổ hi sinh, không run sợ, né tránh.

Nét nổi bật ở họ là thái độ bất chấp khó khăn, gian khổ, hiểm nguy với tinh thần quả cảm:

                                 Không có kính, ừ thì có bụi

                                 Bụi phun tóc trắng như người già

                                 Chưa cần rửa, phì pheo châm điếu thuốc

                                 Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

                                 Không có kính, ừ thì ướt áo

                                 Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

                                 Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

                                 Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Giọng ngang tàng, bất chấp gian khổ thể hiện rõ trong cấu trúc lặp lại: “Không có kính… ừ thì… chưa cần…” và những chi tiết “phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, “lái trăm cây số nữa” (trăm cây số giữa đường Trường Sơn đầy bom đạn, đèo dốc). Gió, bụi, mưa,… có thể gây bao khó khăn, nhưng người chiến sĩ đã bình thường hóa cái không bình thường đó và vượt lên với tất cả sự cố gắng cùng tinh thần trách nhiệm rất cao. Họ chấp nhận gian khổ như một tất yếu. Khó khăn không mảy may ảnh hưởng tới tinh thần của họ. Hình ảnh họ mang một vẻ đẹp kiên cường và lãng mạn.

Những chiến sĩ lái xe còn là những chàng trai trẻ sôi nổi, vui nhộn, lạc quan, rất gắn bó với đồng đội. Khuôn mặt phủ đầy bụi đường lấm lem mà họ: “Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc – Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Quả là tiếng thơ, tiếng cười của một thế hệ trẻ tuổi: Sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên những tiểu đội xe không kính. Họ có thể bắt tay qua cửa kính vỡ rồi mà không cần mở cửa xe, thật thoải mái, tự hào, thắm tình đồng đội. Con đường giải phóng miền Nam là con đường đi tới chính nghĩa, họ càng đi càng có thêm nhiều bè bạn: “Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới”. Tình cảm ấy thắm thiết như ruột thịt, như anh em trong gia đình: “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Một cách định nghĩa về gia đình thật lạ, thật tếu hóm hỉnh mà tình cảm thì sâu nặng thiêng liêng. Những phút sinh hoạt, nghỉ ngơi ngắn ngủi, cái ăn, giấc ngủ thật giản dị, gian khó nhưng tâm hồn người lính thật vui tươi lạc quan, có gì xao xuyến: “Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi, trời xanh thêm”. “Chông chênh” gì thì “chông chênh” nhưng khí phách, nghị lực, ý chí chiến đấu thì vững vàng, kiên định, vượt lên tất cả. Tình đồng đội tiếp cho họ sức mạnh để tâm hồn họ phơi phới, lạc quan. Điệp ngữ “lại đi” khẳng định đoàn xe không ngừng tiến tới, khẩn trương và kiên cường. Hình ảnh “ trời xanh thêm” gợi lên tâm hồn lạc quan, đầy hi vọng, khát vọng của những người lính.

Động lực mạnh mẽ và sâu xa tạo nên sức mạnh phi thường, bất chấp mọi nguy nan, mọi sự hủy diệt tàn phá như vậy của người lái xe chính là ý chí chiến đấu để giải phóng miền Nam, là tình yêu nước nồng nhiệt của tuổi trẻ. Khổ thơ cuối tạo nên kết cấu đối lập, bất ngờ mà sâu sắc: đối lập giữa hai phương diện vật chất và tinh thần, giữa vẻ bên ngoài và bên trong những chiếc xe. Những chiếc xe bị bom Mĩ làm cho biến dạng đến trần trụi: “Không có kính rồi xe không có đèn – Không có mui xe, thùng xe có xước”. Nhưng điều lạ là những chiếc xe trơ trụi ấy vẫn băng ra chiến trường. Tác giả lí giải bất ngờ mà chí lí: “Chi cẩn trong xe có một trái tim”. Mọi thứ của xe có thể không còn nguyên vẹn, chi cần: vẹn nguyên trái tim người chiến sĩ – trái tim vì miền Nam thì xe vẫn chạy, “tất cà cho tiền tuyến”. Đó không chỉ là sự ngoan cường, dũng cảm, vượt lên mọi gian khổ, ác liệt mà còn là sức mạnh của tình yêu nước trái tim ấy khiến chiếc xe trở thành một cơ thể sống thống nhất với người lái xe, không gì tàn phá, ngăn trở được. Xe chạy bằng tim, bằng xương máu những chiến sĩ anh hùng. Trái tim ấy tạo ra niềm tin, niềm lạc quan và sức mạnh chiến thắng. Điều ấy làm cho những chiếc xe càng thêm độc đáo. Vì đó là những chiếc xe do trái tim cầm lái.

Bài thơ đã khắc chạm được hình ảnh đẹp đẽ, ngang tàng đầy khí phách, đầy chất kiêu hùng trong vẻ giản dị nhất của người chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn thời chống Mĩ. Đó cũng là hình ảnh anh bộ đội Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.

Ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ cũng là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Phạm Tiến Duật góp phần khắc hoạ hình ảnh người chiến sĩ lái xe.

Ngôn ngữ bài thơ giản dị, ngồn ngộn chất sống – đời sống chiến trường vừa làm giàu thêm chất liệu thơ ca, vừa thể hiện chân thực hình ảnh người lính lái xe. Lời thơ gần với lối văn xuôi, lời đối thoại, lời nói thường nhưng vẫn giàu chất thơ. Chất thơ toát lên từ những hình ảnh độc đáo, từ vẻ hiên ngang, dũng cảm, sôi nổi, trẻ trung của người lính, từ những ấn tượng, cảm giác cụ thể, sống động của họ khi ngồi trên xe không kính,…

Ngôn ngữ đó góp phần tạo nên giọng điệu đó là giọng ngang tàng, có cả chất nghịch ngợm, phù hợp với đối tượng miêu tả (những chàng lái xe không kính). Thể thơ kết hợp linh hoạt thể bảy chữ và thể tám chữ có chỗ sáu chữ hay mười chữ tạo cho bài thơ có điệu thơ gần với lời nói tự nhiên, sinh động, góp phần tạo nên chất thơ mới, giọng điệu mới của thơ ca chống Mĩ. Nó bắt nguồn từ sức trẻ, từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm.

Cảm nghĩ về thế hệ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ từ hình ảnh người lính trong bài thơ.

Đó là một thế hệ đã sống thật đẹp, thật anh hùng, ý thức sâu sắc về sứ mệnh lịch sử của mình, trong gian khổ, hi sinh vẫn phơi phới, lạc quan. Họ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, “Đi chiến trường như trẩy hội mùa xuân” – “Mưa bom bão đạn lòng thanh thản”. Mãi mãi các thế hệ vẫn khâm phục, tự hào, biết ơn họ.

So sánh hình ảnh người lính ở bài thơ này và bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Hai bài thơ đã khắc họa được hình ảnh người lính qua hai thời kì chống Pháp và chống Mĩ. Nét chung ở họ là lòng yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, là thái độ bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sống lạc quan và có tình đồng đội thắm thiết.

Nhưng mỗi bài thơ lại thể hiện người lính với nét riêng. Bài Đồng chí thể hiện hình ảnh những người lính hầu hết xuất thân từ nông dân, từ thân phận nô lệ, nghèo khổ mà đi vào kháng chiến với vô vàn gian khó, thiếu thốn. Cách mạng là sự giải thoát cho số phận đau khổ, tối tăm của họ. Còn thế hệ trẻ thời chống Mĩ đi vào cuộc chiến đấu với ý thức giác ngộ về lí tưởng độc lập tự do gắn với chủ nghĩa xã hội, ý thức sâu sắc về trách nhiệm của thế hệ mình. Họ sống sôi nổi, trẻ trung, yêu đời, lạc quan, tự tin. Hình ảnh họ được thể hiện trong một thời điểm quyết liệt, khẩn trương hơn. Đó là một thế hệ anh hùng, hiên ngang, mạnh mẽ.

Bài mẫu 2: Phân tích đoạn thơ: Không có kính, rồi xe không có đèn…trái tim trong bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
Phạm Tiến Duật được gọi là “Viên ngọc Trường Sơn của thơ ca”. Đặc biệt mảng thơ về người lính lái xe của ông đã để lại một ấn tượng thật thú vị. Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một trong những “Viên ngọc Trường Sơn” đó.

Cuối bài thơ tác giả đưa ra một tứ thơ bất ngờ – đó là trái tim cầm lái: “Không có kính….trái tim”.

Chiếc xe không kính – Một hình ảnh trần trụi của chiến tranh, trong chiếc xe ấy người lái xe phải huy động mọi giác quan, năng lực để lái xe trong mạo hiểm, phiêu lưu. Tất cả đều vượt qua bởi một điều hết sức giản dị mà thiéng liêng: “Xe vẫn chạy…trái tim”.

Đây là hình ảnh sâu sắc nhất của cả bài thơ. Nhà thơ đã nói đúng tinh thần thời đại: xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu), cả nước lên đường đánh Mĩ vì miền Nam ruột thịt.

Vậy là trái tim vì miền Nam yêu thương đã giúp người lính vượt qua gian khổ trên những chiếc xe không kính, không đèn, không mui xe.. Trái tim rực lửa căm thù giặc Mĩ và nóng bỏng yêu thương đồng bào miền Nam ấy chính là vẻ đẹp sâu thẳm của tâm hồn Việt Nam thời đánh Mĩ là trái tim nhân hậu thủy chung của cả dân tộc.

Phạm Tiến Duật đã thể hiện thành công tâm hồn một thế hệ trẻ Việt Nam yêu nước trong những năm tháng hi sinh gian khổ mà vì dân tộc ta.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng thơ Phạm Tiến Duật. với hình tượng người chiến sĩ lái xe và “Vết xe lăn Trường Sơn” sẽ còn sống mãi trong tâm hồn của những người Việt Nam yêu nước. Những chiếc xe cùng con người anh hùng của một thời ấy đã góp phần làm nên huyền thoại về Trường Sơn, về Việt Nam anh dũng kiên cường.

Bài văn mẫu 3: Nhân vật người lính lái xe trong Bài thơ tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm tiêu biếu viết về người lính lái xe. Họ là những chàng trai trẻ trung, khỏe khoắn, tràn trề sức sống, rất tinh nghịch, tươi vui mà lạc quan, yêu đời, mà dũng cảm lái xe dưới bom rơi đạn nổ để đưa hàng ra tiền tuyến.

Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm kháng chiến chống Mĩ. Anh từng cầm súng chiến đấu và công tác trong đội ngũ những chiến sĩ lái xe chở vũ khí, quân trang từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn. Vốn sống cá nhân và niềm vui ra trận hăm hở của tuổi trẻ lúc bấy giờ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai” như ánh sáng chói chang, giúp nhà thơ Phạm Tiến Duật viết những câu thơ rất chân thực về người chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm tiêu biếu viết về người lính lái xe. Họ là những chàng trai trẻ trung, khỏe khoắn, tràn trề sức sống, rất tinh nghịch, tươi vui mà lạc quan, yêu đời, mà dũng cảm lái xe dưới bom rơi đạn nổ để đưa hàng ra tiền tuyến. Không rõ nhà thơ đã từng bao nhiêu lần trực tiếp cầm lái, hay ngồi trong ca-bin cạnh người cầm lái, mà hình ảnh và suy nghĩ của người lính lái xe trong bài thơ lại chân thực, sống động đến như vậy. Tất cả cứ hiển hiện hồn nhiên, trực diện ngay trước bạn đọc: những chiếc xe không kính và cả tiểu đội lính lái xe vui vẻ, tếu táo mà thật đĩnh đạc, hiên ngang, can đảm… Mở đầu bài thơ là hình ảnh trớ trêu: “Xe không có kính”. Kết thúc là một ý tưởng bất ngờ “Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Phải chăng, tiểu đội xe không kính lăn bánh thông đường mau lẹ được là nhờ…” những trái tim cầm lái? Chuyện thật vô lí? Xin hãy lắng nghe lời người chiến sĩ lái xe, hãy đọc thơ và suy ngẫm:

             Không có kính không phải vì xe không kính

            Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Lời người lính giới thiệu về đoàn xe đặc biệt của mình? Ngôn ngữ mộc mạc, nhịp điệu khoan thai mà gợi tả rõ nét. Những chiếc xe kì lạ “Không có kính chắn gió” – mà thật anh hùng, đang vượt qua chặng đường nguy hiểm quân thù đánh phá ác liệt – “bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi” – Trên những chiếc xe ấy, người chiến sĩ đang vững tay lái. Vừa nhấn ga cho xe lăn bánh ra trận, các anh vừa kể chuyện về mình, về đồng đội:

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

    Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Nhìn thấy sao trời và đột ngột cánh chim

   Như sa như ùa vào buồng lái

Đó là những câu thơ tả thực, sự thực chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh, nên người lái phải đối mặt với biết bao nguy hiểm. Nào là “gió vào xoa mắt đắng”. Nào là “con đường chạy thẳng vào tim” rồi “sao trên trời”, rồi “chim dưới đất” đột ngột bất ngờ, như sa, như ùa – rơi rụng, va đập, quãng ném… – vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình. Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động, cụ thể, đầy ấn tượng, gợi tả cảm giác chân thực dường ấy. Cảm giác ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách. Song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt. Trái lại, tư thế các anh vẫn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vững vàng… Các anh vẫn “Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng…” Hai câu thơ có nhịp thật cân đối: 2/2/2 và 2/2/2. Nhịp thơ như gợi ra sự thăng bằng của chiếc xe đang lăn bánh, sự thanh thản bình tĩnh, tự tin của người lái. “Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng… nhìn thấy, nhìn thấy… Thấy…”. Những điệp từ ấy cứ nhấn đi lại nhấn lại, biểu hiện sự tập trung cao độ của người lái. Hai khổ thơ mở đầu tả thực những khó khăn gian khổ mà những chiến sĩ lái xe Trường Sơn đã trải qua. Trong khó khăn, các anh vẫn bình tĩnh, tự tin nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm, gan góc đưa hàng ra tiền tuyến. Không có kính chắn gió, bảo hiểm, đoàn xe vẫn lăn bánh bình thường. Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút bươn chải trên đường. Có chỗ nhịp nhàng, trong sáng như văng vẳng tiếng hát – vút cao vui vẻ.

        Không có kính ừ thì có bụi

        Bụi phun tóc trắng như người già

        Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

       Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Những thử thách khó khăn trên tuyến đường ra trận là có thật. Đó là “bụi đường” “phun trắng” và “mưa tuôn”, “mưa xối”- hậu quả tất yếu của những chiếc xe mất kính bảo vệ. Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng. Các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn và lạc quan hơn: “Không có kính ừ thì có bụi… không có kính ừ thì ướt áo”. Những câu thơ như lời nói thường, nôm na mà cứng cỏi, toát ra một thái độ chấp nhận khó khăn, gian khổ và có phần thách thức với những khó khăn gian khổ đó. Vượt lên trên tất cả, người lính vẫn có thời gian dành cho mình: hút thuốc, cười đùa, mặt lấm bụi đường “Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc, Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” và tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của mình: dù áo rất ướt nhưng:

“ Chưa cần thay lái trăm cây số nữa,

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”.

Những câu thơ gợi nhớ đến chân dung những người lính vững vàng trước khó khăn, dạn dày với gian khổ, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản. Ra chiến trường, đối mặt với bom đạn là khúc nhạc vui sôi nối của những chàng trai tuổi mười tám đôi mươi, hóm hỉnh: “phì phèo châm điếu thuốc – nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” và táo tợn “chưa cần thay lái trăm cây số nữa”. Hai khổ thơ thứ năm và thứ sáu miêu tả những cuộc gặp gỡ, vui vầy của những người lính lái xe trong không khí đoàn kết, trong tình đồng chí, đồng đội cảm động. Hết một nhiệm vụ, họ đã tới đích. Ấy là lúc họ được ngồi nghỉ hoặc dừng lại, tụ họp với nhau thành một gia đình:

 Những chiếc xe tử trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội…

       … Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

        Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy…

Đoạn thơ hé mở cho người đọc thấy một nét đẹp khác của những người chiến sĩ lái xe. Đấy là tình cảm gắn bó, chia ngọt sẻ bùi. Khi hành quân, các anh động viên, chào hỏi nhau trong hoàn cảnh độc đáo bắt tay qua cửa kính vỡ” – Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt: chung bát, chung đũa. võng mắc chông chênh trò chuyện… Song cũng chỉ trong một thoáng chốc. Để rồi lại tiếp tục hành quân: “Lại đi lại đi trời xanh thêm…” Câu thơ cho thấy tâm hồn phơi phới, lãng mạn và mơ mộng của những người lính lái xe.

Đến khổ thơ cuối cùng, vẫn một giọng thơ mộc mạc, gần với lời nói thường, như văn xuôi:

 Không có kính rồi xe không có đèn

 Không có mui xe thùng xe có xước

 Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim…

Một lần nữa, chân dung người lính lại được nhấn mạnh về hoàn cảnh lao động đặc biệt: lái những chiếc xe không mui, không kính, không đèn… lao ra tiền tuyến. Hai đầu cầu dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống; do đường trường gây ra: xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe xước vỡ… Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên ba lần những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn/ không có mui/ thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai, bom đạn, bốn khúc cua vòng, rẽ ngoặt”… trêu ngươi chọc tức đoàn xe. Xe hư hỏng đấy nhưng mà vẫn chạy bởi vì trong xe có người lính, có trái tim tất cả vì miền Nam thân yêu. Bài thơ đã hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn những năm đánh Mĩ. Người lái xe đã chiến thắng, vượt lên, bom đạn, hăm hở hướng lên phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất đất nước. Đặc biệt, tỏa sáng chói ngời cả đoạn thơ, bài thơ là hình ảnh “trong xe có một trái tim” Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ phẩm chất anh hùng của mỗi người cầm lái, tích tụ, đọng lại ở cái “trái tim” gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chan chứa tình yêu thương này. Phải chăng chính trái tim con người đã cầm lái? Tình yêu Tổ Quốc, tình thương đồng bào đồng chí ở miền Nam đau khổ đã khích lệ, động viên người chiến sĩ vận tải vượt khó khăn gian khổ, luôn lạc quan, bình tĩnh nắm chắc “vô-lăng”, nhìn thật đúng hướng để đưa đoàn xe, khẩn trương, tới đích? Ngữ điệu của câu thơ “chỉ cần trong xe… có một trái tim” thật nhẹ nhõm, song khả năng khắc họa hình tượng nhân vật và khơi gợi suy luận triết lí thật đắm sâu, trĩu nặng. Ẩn sau ý nghĩa “trái tim cầm lái”, câu thơ còn hướng người đọc về một chân lí của thời đại chúng ta: sức manh quvết định, chiến thắng không phải là vũ khí, là công cụ… mà là con người – con người mang trái tim nồng nàn yêu thương, ý chí kiên cường, dũng cảm, niềm lạc quan và một niềm tin vững chắc. Có thể nói cả bài thơ, hay nhất là câu thơ cuối cùng này. Nó là “nhãn tự’, là con mắt của thơ, lật sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp hình tượng nhân vật trong bài thơ. Bắt nguồn từ sức trẻ, từ tâm hồn phơi phới của người chiến sĩ lái xe Việt Nam mà chính là từ những năm tháng nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm.

Chiến tranh đã đi xa nhưng Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã cho ta thấy chân dung tuyệt đẹp của người lính lái xe từ trong cuộc chiến đấu, từ niềm vui sống của con người thời đại chống Mĩ. Trong cuộc kháng chiến tàn khốc nhưng họ vẫn kiên cường, dũng cảm, niềm lạc quan và một niềm tin vững chắc. Để lại trong lòng người đọc những dấu ấn khó phai, mang lại một tinh thần thần chiến đấu mãnh liệt, tinh thần đoàn kết đồng đội cao quý. Hi vọng với những bài văn mẫu trên mà chúng tôi cập nhật sẽ giúp các bạn bổ sung thêm kiến thức bài học cho mình và cảm nhận về bài thơ một cách sâu sắc hơn. 

Hướng dẫn soạn bài Ngắm trăng của Hồ Chí Minh chi tiết

Trăng đi vào thơ ca văn học như một lẽ tự nhiên nhưng không phải vì thế mà ánh trăng trở nên đơn điệu và nhàm chán, ở mỗi con người thì ánh trăng lại được hiện lên ở những khía cạnh khác nhau, gợi cho chúng ta những cảm xúc khác biệt. Chúng ta đã từng biết đến vầng trăng nhớ cố hương của tiên thi Lý Bạch, với bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã làm phong phú và giàu có thêm vẻ đẹp cũng như ý nghĩa của vầng trăng đã quen thuộc từ ngàn đời. Và đặc biệt chúng ta từng rung cảm trước vẻ đẹp của ánh trăng – người bạn tri âm với người tù cộng sản Hồ Chí Minh (Vọng nguyệt – NKTT) khi chúng ta từng  học và soạn bài Ngắm trăng.

tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật bài soạn dưới đây hi vọng sẽ bổ sung kiến thức môn học cho các bạn và hi vọng với bài soạn này các bạn sẽ hiểu rõ hơn nội dụng bài thơ, hiểu rõ được vị lãnh tụ của đất nước chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hướng dẫn soạn bài Ngắm trăng – Hồ Chí Minh

Câu 1. Câu thứ nhất dịch sát với nguyên tác, câu thứ hai của nguyên tác có nghĩa là: “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?” Câu thơ được dịch (Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ) đã bỏ đi cái xốn xang, bối rối được thể hiện ở lời tự hỏi “nại nhược hà” (biết làm thế nào?). Dịch là “khó hững hờ” thì lại cho thấy nhân vật trữ tình quá bình thản, có phần… hững hờ, chứ không rung cảm mạnh mẽ như trong câu thơ chữ Hán.

Hai câu sau của bài thơ chữ Hán có kết cấu đăng đối đáng chú ý, đối trong từng câu và đối hai câu với nhau:

Nhân hướng song tiền khan minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khan thi gia.

Ở mỗi câu, chữ chỉ người (nhân, thi gia) và chữ chỉ trăng (nguyệt) đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song), mặt khác, hai câu còn tạo thành một cặp đối, cũng người và trăng, minh nguyệt và thi gia đối với nhau. Với kết cấu đó, bài thơ có một hiệu quả về nghệ thuật đáng kể. Hai câu thơ dịch đã làm mất đi cấu trúc đăng đối, tức cũng giảm đi phần nào sức truyền cảm. Ngoài ra, câu thơ dịch thứ tư có hai từ gần đồng nghĩa (nhòm, ngắm) rõ ràng là chưa cô đúc, đó là chưa kể chữ nhòm ở đây không được nhã (nhất là lại nhòm khe cửa!).

Câu 2. Vọng nguyệt (hay đối nguyệt, khan minh nguyệt) là một thi đề rất phổ biến thuở xưa. Thi nhân xưa, gặp cảnh trăng đẹp, thường đem rượu uống trước hoa để thưởng trăng: có rượu và hoa thì sự thưởng trăng khi thảnh thơi, tâm hồn thư thái. Nhưng ở đây, Hồ Chí Minh đã ngắm trăng trong một hoàn cảnh đặc biệt, trong ngục tù! Bậc tao nhân mặc khách thưởng trăng của cái nhà tù tàn bại dã man mà tù nhân phải sống cuộc sống “khác loài người” làm sao phù hợp với việc thưởng nguyệt! Làm sao có rượu và hoa để thưởng trăng? Không thể cho rằng câu thơ này mang ý nghĩa phê phán (vì chẳng có nhà tù nào là “nhân đạo” đến nỗi mỗi kỳ trăng sáng lại đem rượu và hoa đến cho tù nhân ngắm trăng!). Chỉ có thể hiểu rằng, trước cảnh đêm trăng quá đẹp, Hồ Chí Minh bỗng khao khát được thưởng trăng một cách trọng vẹn và lấy làm tiếc không có rượu và hoa. Việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh tù ngục khắc nghiệt ấy đã cho thấy người tù này không hề vương bận bởi những ách nặng về vật chất, tâm hồn vẫn tự do, vẫn ung dung, vẫn them được tận hưởng cảnh trăng đẹp.

Câu thứ hai, có cái xốn xang, bối rối rất nghẹ sĩ trước cảnh đêm trăng quá đẹp của Bác Hồ. Câu thơ cho thấy rõ tâm hồn nghệ sĩ đích thực của Người. Mà trong tù thì biết làm thế nào để có cuộc ngắm trăng thực sự, và vì vậy mà càng bứt rứt, bối rối. Người chiến sĩ cách mạng vĩ đại, lão luyện ấy vẫn là một con người yêu thiên nhiên một cách say mê và hồn nhiên, đã rung động mãnh liệt trước cảnh trăng đẹp, dù đang là thân tù.

Câu 3. Cấu trúc cả hai câu đều thấy giữa nhân và nguyệt (Ngoài trời) có song sắt nhà tù chắn ở giữa. Tuy nhiên, người đã thả tâm hồn vượt ra ngoài cửa sắt nhà tù để tìm đến ngắm trăng sáng (khan minh nguyệt), tức là để giao hòa với vầng trăng tự do đang tỏa mộng giữa trời. Đây không phải là cuộc vượt ngục về tinh thần duy nhất của người tù cách mạng Hồ Chí Minh để tìm đến vầng trăng tri kỉ. Trong bài Trung thu, Bác đã viết:

Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt

Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu

(Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt

Tâm tùy thu nguyệt cộng du du).

Và vầng trăng trong bài Ngắm trăng cũng vượt qua song sắt nhà tù để tìm đến ‘ngắm nhà thơ’ (khán thi gia) trong tù. Vậy là cả người và trăng đều chủ động tìm đến giao thoa cùng nhau, ngắm nhau say đắm. Cấu trúc đôi của hai câu chữ Hán đã làm nổi bật ‘tình cảm song phương’ đều mãnh liệt của cả người và trăng. Tất nhiên, đây là biện pháp nhân hoa của nghệ thuật, nhưng đã cho thấy với Bác Hồ, trăng đã hết sức gắn bó, thân thiết, trở thành tri âm tri kỉ từ lâu.

Hai câu thơ còn cho thấy sức mạnh tinh thần kì diệu của người chiến sĩ – thi sĩ ấy. Phía này là nhà tù đen tối, là hiện thực tàn bạo, còn ngoài kia là vầng trăng thơ mộng, là thế giới cái đẹp, bầu trời tự do, là lãng mạn say sưa người, ở giữa hai thế giới đối cực đó là cửa sắt của nhà tù. Nhưng với cuộc ngắm trăn này, song sắt nhà tù đã trở nên bất lực, vô nghĩa trước những tâm hồn tri âm tri kỉ tìm đến nhau.

Câu 4. Bài thơ vừa thể hiện tình cảm thiên nhiên đặc biệt sâu sắc, mạnh mẽ, một biểu hiện nổi bật của tâm hồn nghệ sĩ ở Bác Hồ, vừa cho thấy sức mạnh tinh thần to lớn của người chiến sĩ vĩ đại đó. Vì vậy, có thể nói, đằng sau những câu thơ rất thơ đó lại là một tinh thần thép, mà biểu hiện ở đây là sự tự do nội tại, phong thái ung dung vượt hẳn lên sự đè nặng của ngục tù. Qua bài thơ, người đọc cảm thấy người tù cách mạng ấy dường như không chút bận tâm về những cùm xích, đói rét, mỗi rệp, ghẻ lở… của chế độ nhà tù khủng khiếp, cũng bất chấp song sắt thô bạo của nhà tù, đã để tâm hồn bay bổng tìm đến ‘đối diện đàm tâm’ với vầng trăng tri âm.

Bài thơ là một minh chứng sinh động cho hai câu thơ Hồ Chí Minh viêt ngoài bìa tập Nhật kí trong tù : ‘Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao’.

Câu 5. a. Một số bài thơ Bác viết về trăng :

– Bài ‘Trung thu’ :

Gương trăng vành vạnh giữa trời thu,

Sáng khắp nhân gian bạc một màu,

Sum họp nhà ai ăn

Tết đó Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.

***

Trung thu ta cũng Tết trong tù,

Trăn gió đêm thu gợi vẻ sầu

Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt.

Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.

(được viết khi Bác bị bắt giam ở nhà tù Tưởng Giới Thạch)

– Bài ‘Cảnh khuya’:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

(1947)

– Bài ‘Rằm tháng giêng” (Nguyên tiêu)

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

(1948)

– Bài “Đối trăng” (Đối nguyệt):

Ngoài song, trăng rọi cây sân,

Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.

Việc quân, việc nước bàn xong

Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.

(được viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp)

Điều đáng lưu ý là thơ Bác dành một vị trí trang trọng cho trăng. Giữa trăng và thi nhân có một khối giao hòa đồng điệu như tri âm tri kỉ. Vì thế, viết về trăng, các bài thơ của Hồ Chí Minh bộc lộ một tâm hồn nhảy cảm với cái đẹp, tinh tế trước cảnh sắc thiên nhiên. Bên cạnh phẩm chất nghệ sĩ ấy là cốt cách người chiến sĩ với phong thái ung dung, lạc quan, luôn hướng về ánh sáng. Mặc khác, các bài thơ viết về trăng cho thấy một phong cách đặc sắc trong thơ trữ tình của Người, đó là sự hòa quyện giữa chất cổ điện và tinh thần hiện đại.

Hồ Chí Minh người không chỉ là một vị lãnh tụ vĩ đại  được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng mà còn là một nhà văn, nhà thơ đã để lại cho đời những tác phẩm có giá trị to lớn. Trong đó ngắm trăng là một bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Nhật kí trong tù của người.  Với những tài liệu mà chúng tôi cập nhật trên đây hi vọng rằng đã giúp các bạn soạn bài ngắm trăng đầy đủ và hiểu được phong cách đặc sắc trong thơ trữ tình của Người, đó là sự hòa quyện giữa chất cổ điện và tinh thần hiện đại.

Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người đầy đủ nhất

Qua bài soạn dưới đây giúp các em thấy được giá trị tư tưởng, nghệ thuật của  Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người thông qua việc phân tích những bài ca dao tiêu biểu. Đồng thời, phát hiện và phân tích những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, những mô típ quen thuộc trong các bài ca dao trữ tình về tình yêu quê hương, đất nước, con người. Ngoài ra, bài soạn còn hướng dẫn các em giải quyết các dạng bài tập 1 và 2 trong SGK một cách đầy đủ và chi tiết.

Câu hỏi 1: Nhận xét về bài 1, em đồng ý với ý kiến nào dưới đây:

a- Bài ca là lời của một người và chỉ có một phần.

b- Bài ca có hai phần: Phần đầu là câu hỏi của chàng trai, phần sau là : lời đáp của cô gái.

c- Hình thức đối đáp này có rất nhiều trong ca dao, dân ca.

d- Hình thức đối đáp này không phố biến trong ca dao, dân ca.

Gợi ý: Trong bốn ý kiến nhận xét ở bài tập 1, ý kiến b và c là đúng vì:

– Ở ý kiến b: Sáu dòng đầu tiên là câu hỏi của chàng trai thế hiện qua từ “nàng ơi”, sáu dòng sau là câu trả lời của cô gái hướng tới người nghe là “chàng ơi”.

– Ở ý kiến c: Hình thức đối đáp này có ở nhiều bài ca dao, đặc biệt là trong nhừng câu hát giao duyên. VD ở bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa”.

Câu hỏi 2: Trong bài 1, vì sao chàng trai, cô gái lại dùng những địa danh với những đặc điếm (của từng địa danh) như vậy để hỏi – đáp?

Gợi ý: Như chúng ta đã biết, địa danh thường có những nét tiêu biếu về các phương diện địa lí, tự nhiên, lịch sử, văn hoá. Thông qua lời hỏi đáp, nhân vật trừ tình muôn bày tỏ tình cảm với nhau qua việc chia sẻ hiếu biết về nhừng danh lam thắng cảnh cua quê hương đất nước. Điều đó còn cho thấy người hỏi đã biết lựa chọn những nét đặc sắc, tiêu biểu về địa danh và người đáp đã trả lời rất trúng ý của người hỏi. Họ là những con người tài hoa, lịch lãm, tế nhị.

Câu hỏi 3: Phân tích cụm từ “Rủ nhau” và nêu nhận xét của em về cách tả cảnh của bài 2. Địa danh và cảnh trí trong bài gợi lên điều gì? Suy ngẫm của em về câu hỏi cuối bài ca: “Hỏi ai gây dựng nên non nước này?”

Gợi ý:

– Trong ca dao có một sô bài thường bắt đầu bằng cụm từ “Rủ nhau”. VD: “Rủ nhau đi cấy, đi cày…” hay “Rủ nhau đi tắm ao sen”….

– Nhóm từ “Rủ nhau” được dùng khi người rủ và người được rủ có quan hệ thân thiết, gần gũi, hoặc có chung mối quan tâm và cùng muốn thực hiện một việc gì đó.

– Với bút pháp tả cảnh gợi nhiều hơn tả, thông qua các địa danh tiêu biểu của hồ Gươm: Kiếm Hồ, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn – một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp giàu truyền thống lịch sử – văn hoá đã hiện lên ngay trước mắt người đọc. Những tên gọi đó đã ăn sâu vào trong tiềm thức và trở thành những tên gọi thân thương quen thuộc trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

– Địa danh và cảnh trí gợi cho người đọc nhớ đến truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc. Đó là một hồ Gươm, một Thăng Long huyền thoại. Qua đó gợi tình yêu, niềm tự hào về quê hương đất nước.

– Câu hỏi cuối bài ca: “Hỏi ai gây dựng nên non nước này?”, với giọng điệu tự nhiên, tâm tình, nhắn nhũ là lời khẳng định về công lao to lớn của cha ông ta trong việc xây dựng cơ đồ cho dân tộc. ơ đây, những địa danh của hồ Gươm được nâng lên thành biểu trưng cho truyền thống lịch sử – văn hoá của dân tộc Việt Nam. Qua đó, muốn nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau cần giừ gìn và tiếp tục xây dựng những truyền thống văn hoá tôt đẹp ấy.

Câu hỏi 4: Nhận xét của em về cảnh trí xứ Huế và cách tả cảnh trong bài 3. Em hãy phân tích đại từ “ai” và chỉ ra những tình cảm ẩn chứa trong lời mời, lời nhắn gửi: “Ai vô xứ Huế thì vô…”

Gợi ý: – Nhận xét về cảnh trí xứ Huế: Bài ca dao đã phác hoạ ra trước mắt người đọc một bức tranh xứ Huế thơ mộng. Bức tranh đó có “non xanh”, “nước biếc” là những màu sắc khá nên thơ, khoáng đạt, tươi tắn và giàu sức sống. Bức tranh đó được sánh với “tranh hoạ đồ”, gợi lên một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hoá.

– Nhận xét về cách tá cảnh: Bài ca dao sử dụng bút pháp gợi nhiều hơn tả, dùng nghệ thuật so sánh kết hợp với các định ngữ đã vẽ nên những đường nét và màu sắc sinh động của con đường vào xứ Huế.

– Phân tích đại từ “ai” và những tình cảm ẩn chứa trong câu ca dao “Ai vô xứ Huế thì vô”: Đại từ “ai” được hiểu theo rất nhiều nghĩa vì: đại từ “ai” trong ca dao thường mang ý nghĩa phiếm chỉ. Đó có thể là một hoặc nhiều người, hàm chứa nhiều đôi tượng mà tác giả hướng tới. Lời ca dao “Ai vô xứ Huế thì vô…” là lời mời, lời nhắn nhủ. Điều đó thể hiện tình yêu, lòng tự hào đối với cảnh đẹp xứ Huế và lời mời gọi mọi người hãy đến thăm xứ Huế đẹp mộng mơ.

Câu hỏi 5: Hai dòng thơ đầu bài 4 có những gì đặc biệt về từ ngữ? Nhửng nét đặc biệt ấy có tác dụng, ý nghĩa gì?

Gợi ý: – Hai dòng thơ đầu mỗi dòng gồm 12 tiếng, được kéo dài ra và khác với một dòng thơ bình thường. Như thế có tác dụng gợi lên sự rộng dài, to lớn, và vì vậy ta có cảm giác cánh đồng lúa như trải dài ra mênh mông, vô tận.

– Các biện pháp nghệ thuật: đảo ngữ, điệp ngữ và phép đối xứng giúp cho người đọc như đang đứng trước một cánh đồng không chỉ rộng lớn mà còn rất đẹp và đầy sức sống.

Câu hỏi 6: Phân tích hình ảnh cô gái trong hai dòng cuối bài 4.

Gợi ý: – Hình ảnh cô gái trong hai dòng cuối của bài 4 là một cô thôn nữ mảnh mai, duyên dáng và đầy sức sống.

– “Thân em” được so sánh với hình ảnh “chẽn lúa đòng đòng”. Đây là một sự so sánh tự nhiên, sinh động gợi lên nét trẻ trung phơi phới đầy sức xuân.

– Trước cánh đồng bao la, rộng lớn, tác giả dân gian vẫn nhận ra cô gái vô cùng đáng yêu “phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”. Ở đó cô gái chính là hồn của cảnh vật.

Câu hỏi 7: Bài 4 là lời của ai? Người ấy muốn biểu hiện tình cảm gì? Em có biết cách hiểu nào khác về bài ca này và có đồng ý với cách hiếu đó không? Vì sao?

Gợi ý: – Bài 4 là một cách bày tỏ tình cảm của chàng trai đối với cô gái, thông qua việc ca ngợi cánh đồng và vẻ đẹp cùa đối tượng trữ tình- một vẻ đẹp đầy sức sông, trẻ trung. Bởi vậy, có thể kết luận rằng đây chính là lời cũa chàng trai.

– Cùng với cách hiếu trên, còn có thế hiểu theo cách khác đó là: lời của bài ca dao là lời của cô gái, cô đã ý thức được vẻ đẹp của bản thân “Thân em như chẽn lúa đòng đòng, phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”. Song trước không gian rộng lớn thì “chẽn lúa đòng đòng” lại trở nên nhỏ nhoi, vô định, nên đó phải chăng còn là tâm trạng lo âu của cô gái, cô không biết sô’ phận của mình sẽ ra sao? Như vậy, bài ca dao có thể hiểu theo hai cách, vì cả hai cách trên đều có căn cứ xác đáng. Tuỳ vào sự cảm nhận riêng, mỗi người đều có thế lựa chọn cách hiểu mà bản thân cho là hợp lí nhất.

LUYỆN TẬP

Bài tập 1: Em có nhận xét gì về thể thơ trong bốn bài ca?

Gợi ý: Thể thơ lục bát là thế thơ chính được bốn bài ca dao trên sử dụng. Bên cạnh đó còn có thế thơ lục bát biến thế (bài 1 sô tiếng không tuân theo câu 6, câu 8 tiếng mà có câu lên đến 9, 10, 11 tiêng; bài 3 không kết thúc bằng dòng 6 tiếng), sử dụng thể thơ tự do: bài 4 (hai dòng đầu lên đến 12 tiếng).

Bài tập 2: Tình cảm chung thể hiện trong bốn bài ca dao là gì?

Gợi ý: Xuyên suốt bốn bài ca dao là những tàm tư tình cảm sâu kín được gửi gắm vào tình yêu quê hương đất nước, con người.

Trên đây là bài soạn Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người mà chúng tôi cập nhật để các bạn tham khảo làm bài. Theo dõi chúng tôi để tham khảo thêm nhiều bài khác nữa. Chúc các bạn học tập tốt, đạt kết quả cao! 

Tổng hợp: Hướng dẫn soạn bài Mẹ tôi và cảm nghĩ về tác phẩm Mẹ tôi

tiepsucmuathi.edu.vn tổng hợp bài soạn dưới đây và bài cảm nhận về tấc phẩm mẹ tôi để các bạn có thể tham khảo khi học và soạn bài Mẹ tôi. Bài viết khá chi tiết và đầy đủ: trả lời các câu hỏi của bài học và bài cảm nghĩ về tác phẩm Mẹ tôi hi vọng các bạn sẽ nắm được nội dung tác phẩm để học bài tốt hơn.

Hướng dẫn soạn bài Mẹ tôi

I. VỀ TÁC GIẢ

Ét-môn-đô A-mi-xi (1846-1908) là nhà văn I-ta-li-a, người đã viết bộ sách giáo dục Những tấm lòng cao cả nổi tiếng (trong đó có đoạn trích Mẹ tôi). Ngoài ra, ông còn là tác giả của những cuốn sách như Cuộc đời của những chiến binh (1868), Cuốn truyện của người thầy (1890), Giữa trường và nhà (1892),… Trong những cuốn sách đó, vấn đề quan hệ giữa thầy và trò, gia đình và nhà trường, quan hệ bè bạn,… được thể hiện rất sinh động qua những câu chuyện hấp dẫn và bổ ích.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Câu 1. Văn bản là một thư của người bố gửi cho con, nhưng tại sao tác giả lại lấy nhan đề “Mẹ tôi”.

– Hình thức của văn bản là bức thư của người bố gửi cho con nhưng nội dung mà bức thư đề cập đến lại là người mẹ. Người mẹ là nhân vật chính của câu chuyện.

– Người bố viết thư vì thái độ vô lệ của con đối với mẹ, mục đích giáo dục con cần phải lễ độ và kính yêu mẹ. Vì vậy nhan đề “Mẹ tôi” là hoàn toàn chính xác.

– Có ý kiến cho rằng có thể thay thế nhan đề khác như: “Hối hận”, “Một lỗi lầm”. Hai nhan đề này cũng phản ánh được nội dung sự việc, nhưng nó là nghiêng về thể hiện nhân vật tôi hơn là người mẹ. Thứ nữa nó làm mất đi giá trị biểu cảm.

Câu 2. Thái độ của người bố đối với En-ri-cô qua bức thư là thái độ như thế nào? Dựa vào đâu mà em biết được? Lí do gì khiến ông có thái độ ấy?

– Thái độ của người bố đối với En-ri-cô là thái độ buồn bã, tức giận, kiên quyết và rất nghiêm khắc.

– Điều đó được thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh, lời lẽ trong bức thư:

+ “Nhớ lại điều ấy, bố không nén được cơn tức giận đối với con” – > thái độ tức giận.

+ “Con mà lại xúc phạm đến mẹ con ư?” – > Buồn bã, thất vọng.

+ “Trong một thời gian con đừng hôn bố”, “Thà rằng bố không có con còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ” – > Thái độ nghiêm khắc.

+ “Việc như thế không bao giờ được tái phạm nữa”. “Con phải xin lỗi mẹ” – > Thái độ kiên quyết.

– Lí do để người bố có thái độ như vậy vì: “Bố để ý sáng nay lúc cô giáo đến thăm, khi nói với mẹ, tôi có nhỡ thốt ra một lời thiếu lễ độ” và điều đó:

+ “Giống như một nhát dao đâm vào tim bố”

+ Là một sự xấu hộ, nhục nhã, dấu vết của sự vong ơn bội nghĩa.

Câu 3. Trong truyện có những hình ảnh những chi tiết nào nói về người mẹ En-ri-cô qua đó em hiểu mẹ của En-ri-cô là người như thế nào?

– Những chi tiết, hình ảnh nói về người mẹ của En-ri-cô:

+ “Mẹ đã thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở vì nghĩ rằng có thể mất con”.

+ “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn”.

+ “Người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”.

– Qua đó giúp ta hiểu rằng mẹ của En-ri-cô là người có tình thương con vô cùng mãnh liệt, hết lòng vì con hi sinh tất cả vì con. Đó là hình ảnh về một người mẹ thiêng liêng, biểu tượng đẹp của tình mẫu tử.

Câu 4. Theo em điều gì đã khiến En-ri-cô xúc động khi đọc thư bố? Lí do En-ri-cô xúc động khi đọc thư bố là:

– Vì bố đã nhắc lại những kỉ niệm thiêng liêng giữa mẹ và En-ri-cô.

– Thái độ nghiêm khắc, kiên quyết của bố.

– Những lời nói chân tình, sâu sắc và xúc động của bố.

– Vì bố rất yêu En-ri-cô.

– Và còn bởi En-ri-cô là một cậu bé biết hối lỗi, thấy xấu hổ trước sự sai phạm của mình.

Câu 5. Theo em tại sao người bố không nói trực tiếp với En-ri-cô mà lại viết thư ? Lí do để bố En-ri-cô chọn hình thức viết thư :

– Giữ được sự kín đáo, tế nhị không làm người mắc lỗi cảm thấy xấu hổ trước mặt những người khác quát mắng hay bị đánh.

– Hình thức viết thư làm cho En-ri-cô nhận thức sâu sắc hơn, có thời gian để suy nghĩ và đọc đi đọc lại nhiều lần.

– Viết thư tình cảm của người bố được thể hiện dễ dàng hơn, sâu sắc hơn.

= > Tóm lại, dưới hình thức viết thư đó là cách góp ý vừa tế nhị kín đáo, lại vừa hiệu quả.

Câu 6. Sưu tầm một số bài thơ, đoạn thơ viết về người mẹ.

Mẹ

… Mẹ ngồi vá áo trước sân

Vá bao mong ước tay sần mũi kim

Bát canh đắng lá chân chim

Lẫn vài con tép mẹ tìm dành con.

(Nguyễn Ngọc Oánh)

Kí ức của mẹ

Mẹ đã chờ xanh lại thời gian

Mẹ ngỡ con còn chơi trốn tìm đâu đó

Những đứa con mang hình hài nỗi nhớ

Kí ức mẹ là lòng biển hóa san hô.

(Nguyễn Khắc Thạch)

Câu 7. Nếu được gặp En-ri-cô, em sẽ tâm sự với bạn điều gì? Em có thấy rằng En-ri-cô có người mẹ và người bố thật tuyệt vời không? Nếu đồng ý em hãy nói với bạn điều đó

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

  1. Tóm tắt

Vì được viết dưới dạng một bức thư nên văn bản này hầu như không có cốt truyện. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào cách thể hiện của văn bản (đã nói ở trên) để tóm tắt những nét chủ yếu như sau:

En-ri-cô ăn nói thiếu lễ độ với mẹ. Bố biết chuyện, viết thư cho En-ri-cô với lời lẽ vừa yêu thương vừa tức giận. Trong thư, bố nói về tình yêu, về sự hi sinh to lớn mà mẹ đã dành cho En-ri-cô… Trước cách xử sự tế nhị nhưng không kém phần quyết liệt, gay gắt của bố, En-ri-cô vô cùng hối hận.

  1. Cách đọc

Văn bản hầu như chỉ sử dụng một giọng điệu duy nhất là giọng điệu của người bố nói với con. Bởi vậy, ngoài đoạn thứ nhất (được viết theo phương thức tự sự) đọc bằng giọng chậm rãi, thể hiện sự hối hận của En-ri-cô, các đoạn sau cần đọc bám sát giọng điệu của người bố: khi thủ thỉ tâm tình (nói về tình yêu và sự hi sinh của mẹ đối với En-ri-cô), khi tức giận (biểu lộ thái độ giận dữ trước cách nói năng của En-ri-cô với mẹ),…

  1. Có thể chọn đoạn văn sau để học thuộc lòng:

Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên nó. 

  1. Kể lại một sự việc em lỡ gây ra khiến bố mẹ, mẹ buồn phiền.

Trong cuộc đời của mỗi con người nhất là khi còn thơ ấu chắc hẳn sẽ không ít lần mắc lỗi khiến cho bố mẹ phải phiền lòng. Em có thể nhớ lại câu chuyện (của bản thân, của người khác mà em từng được chứng kiến hay nghe kể lại) từng khiến mình phải băn khoăn, day dứt và hãy kể lại câu chuyện đó. Cần chú ý nêu ra được những bài học cho bản thân.

Bài văn mẫu: Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm Mẹ tôi của nhà văn Ét- môn- đô đờ A- mi-xi

Văn bản Mẹ tôi là một tác phẩm hay và giàu ý nghĩa của nhà văn Ét- môn- đô đờ A- mi-xi, thông qua bức thư của người bố gửi cho En- ri- cô đã thể hiện được tình yêu của người mẹ dành cho cậu bé En- ri- cô, thái độ yêu thương nhưng nghiêm khắc trong cách giáo dục con của bố Em – ri- cô cũng như thái độ hối hận của Em – ri- cô vì đã có thái độ hỗn hào đối với người mẹ của mình. Thông qua tác phẩm này người đọc thêm hiểu và kính trọng đối với tấm lòng bao la của người mẹ, và cũng như ý thức về từng hành động, cách ứng xử với mẹ của mình.

Tác phẩm Mẹ tôi không có cốt truyện, tác phẩm được trình bày dưới hình thức của một lá thư mà bố En- ri- cô gửi cho En – ri- cô khi chứng kiến thái độ hỗn hào, thiếu lễ phép của cậu bé với mẹ. Tuy không có cốt truyện nhưng theo dõi từng tình tiết mà người cha đề cập đến trong lá thư, ta có thể phần nào hiểu được diễn biến sự việc xảy ra. Ta có thể cụ thể hóa nội dung của sự việc qua sự hình dung sau: En- ri- cô đã có những lời nói thiếu lễ phép với mẹ khiến cho người mẹ buồn bã, người bố chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra và thất vọng trước cách cư xử, lời nói của En- ri- cô.

Người bố đã nhắc nhở người con thông qua một bức thư, trong bức thư đó thì người bố đã nói về những hi sinh thầm lặng của mẹ dành cho En- ri – cô và tỏ thái độ thất vọng với En- ri- cô. En- ri- cô sau khi đọc lá thư bố gửi cho mình thì chợt hiểu ra nhiều chuyện, ý thức được lời nói vô lễ của mình đã làm mẹ tổn thương và những hối hận, En- ri- cô quyết định xin mẹ tha thứ cho lỗi lầm của mình và thay đổi theo hướng tích cực.
Ta có thể thấy, nhân vật En- ri- cô là một đứa trẻ nông nổi, bồng bột, chưa ý thức được những lời nói cũng như hành động của mình, bởi vậy mà nói ra những lời thiếu lễ độ, làm tổn thương đến mẹ. Buổi sáng khi cô giáo đến nhà, En- ri- cô đã trước mặt cô giáo nói ra những lời thiếu lễ độ với mẹ. Lời nói tuy vô tình nhưng khiến cho người mẹ buồn, làm cho bố của En-ri- cô thất vọng. Đây là một hành vi không nên có ở một người con, đáng nhắc nhở và trách phạt. Nhưng ta cũng có thể thấy En- ri- cô là một đứa trẻ biết suy nghĩ, hối lỗi trước sự sai trái của bản thân. Trước những lời phân tích, phê bình nghiêm khắc của bố, En- ri- cô đã nhận thấy được cái sai của bản thân và có những suy nghĩ đúng đắn và hành động sử chữa kịp thời.

En- ri- cô biết ơn bố vì đã nhắc nhở mình và cảm thấy hối hận trước lời nói thiếu lễ độ với mẹ, En- ri- cô đã sửa chữa lỗi lầm bằng cách cầu xin sự tha thứ của người mẹ. Như vậy, cậu bé En- ri- cô đáng trách nhưng cũng đáng trân trọng, đáng trách vì có những lời nói không đúng với mẹ, đáng trân trọng bởi cậu bé là một người biết lắng nghe, dùng những hành động thiết thực để sửa chữa lỗi lầm thay vì ngang bướng phủ định, không nghe lời bố. Qua bức thư của bố En- ri- cô gửi cho En- ri- cô ta có thể thấy đây là một người bố nghiêm khắc trong cách giáo dục con cái.

Bố En- ri- cô không chấp nhận thái độ hỗn hào của En- ri- cô đối với mẹ, người bố đã vô cùng tức giận trước những lời nói không suy nghĩ ấy “Bố không thể nén được cơn tức giận đối với con”, người bố ấy nghiêm khắc trong việc chỉ ra khuyết điểm của con “…thà rằn bố không có con, còn hơn thấy con bội bạc với mẹ”. Ta có thể thấy bố En- ri- cô là một người vô cùng bộc trực, ngay thẳng khi nói ra những suy nghĩ của mình, người bố ấy không cho phép đứa con có hành vi hỗn láo với chính người yêu thương, quan tâm đến nó hơn tất cả mọi người.

Bên trong vẻ ngoài nghiêm khắc, bộc trực ấy là một tình thương con sâu sắc, vì thương con nên mới tức giận trước những hành vi sai trái của con “Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy”. Người bố cũng là người có phương pháp giáo dục con hiệu quả, người bố dùng những lời lẽ có nghiêm khắc, có tha thiết, có cảnh cáo nhắc nhở để người con có thể thay đổi. Người mẹ tuy không xuất hiện trực tiếp nhưng qua lời kể của bố En- ri- cô ta có thể thấy đây là một người mẹ tuyệt vời.

Đó là người mẹ hết lòng yêu thương, chăm sóc, hi sinh lặng thầm vì En- ri-cô. Hồi còn nhỏ, En- ri- cô nhiều bệnh, hay ốm đau, mẹ luôn ở bên không rời En- ri- cô nửa bước vì sợ một phút rời mắt thôi thì đứa con có thể rời xa vòng tay mình mãi mãi “…mẹ phải thức suốt đên, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con,…khi nghĩ rằng có thể mất con”, đó là người mẹ vĩ đại, sẵn sàng đánh đổi hết một năm hạnh phúc, thậm chí cả tính mạng để cứu sống con.

Tác phẩm Mẹ tôi của nhà văn Ét- môn- đô đờ A- mi-xi đã đề cập đến nhiều vấn đề mang tính nhân văn, đó là tình yêu của bố mẹ đối với con cái, là cách thức giáo dục để những đứa con có thể thay đổi theo hướng tích cực. Mà hơn hết đó chính là sự trưởng thành trong nhận thức của đứa con sau tất cả những lỗi lầm mà nó gây ra.

Trên đây là tổng hợp đầy đủ  hướng dẫn trả lời các câu hỏi soạn bài Mẹ tôi và bài văn mẫu cảm nghĩ về tác phẩm Mẹ tôi mà tiepsucmuathi.edu.vn đã cập nhật. Nếu còn câu hỏi nào các bạn cần giải đáp thì hãy gửi về cho chúng tôi nhé. Chúc các bạn học tập tốt!

Hướng dẫn soạn bài Tràng Giang của Huy Cận đầy đủ nhất

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới (1930-1945) với những tác phẩm có sự kết hợp giữ yếu tố hiện đại và cổ điển. Phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Có thể nói đó là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, buồn bã vì thời thế trước cách mạng cho đến không khí hào hứng vui tươi sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới. Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơ để lại trong long người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.

Hướng dẫn Soạn bài Tràng Giang của Huy Cận 

 

Câu 1: Câu thơ đề “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

Đề từ tuy nằm ngoài văn bản tác phẩm, nhưng lại tập trung thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả. Câu thơ đề từ của bài thơ này: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” là một ví dụ tiêu biểu. Lời đề từ ngắn nhưng đã thể hiện được một phần quan trọng hồn cốt của tác phẩm, nói cụ thể hơn, đây chính là nỗi buồn (bâng khuâng là có những cảm xúc ngỡ ngàng, luyến tiếc, nhớ thương đan xen nhau) trước cảnh vũ trụ bao la, bát ngát (trời rộng, sông dài).

Có thể nói, Tràng giang đã triển khai một cách tập trung cảm hứng nếu ở câu thơ đề từ.

Câu 2. Âm điệu của bài thơ

Âm hưởng chung của bài thơ là âm điệu buồn, vừa dư vang vừa sâu lắng. Đó là nỗi buồn sầu ngấm sâu trong lòng tạo vật và trong tâm hồn nhà thơ. Âm điệu đó còn được tạo nên bởi nhịp điệu và thanh điệu của thể thơ thất ngôn. Nhịp thơ chủ yếu của bài là nhịp 2/2/3, đôi chỗ là 4/3 hoặc 2/5. Nhịp thơ đều, chậm gợi nỗi buồn sầu mênh mang.

Việc sử dụng nhiều từ láy hoàn toàn với sự lặp lại đều đặn tạo âm hưởng trôi chảy triền miên cùng nỗi buồn vô tận trong cảnh vật và hồn người.

Câu 3. Bức tranh thiên nhiên

a. Bài thơ tạo dựng được một bức tranh thiên nhiên cổ kính, hoang sơ với tầm vóc mênh mang vô biên, đậm chất Đường thi. Chất liệu để tạo nên bức tranh đó là hộ thống các hình ảnh ước lệ thường được sử dụng trong thơ cổ. Tràng giang; thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên, sônẹ dài, trời rộng; mây đùn núi bạc; bóng chiều; vời con nước; khói hoàng hôn,… Bức tranh ấy hiện dần lên qua các khổ thơ, càng lúc càng thêm đậm màu cổ điển.

Bài thơ có tựa đề là Tràng giang, câu thơ đầu tiên nhắc lại tựa đề (Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp). “Tràng giang” chứ không phải “trường giang” mặc dù hai từ đều có chung một nghĩa. Nhờ cách điệp vần “ang”, “tràng giang” góp phần tạo nên dư âm vang xa, trầm buồn của câu thơ mở đầu, tạo nên âm hưởng chung cho giọng điệu của cả bài thơ, đặc biệt nó khơi gợi được xúc cảm và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian.

b. Huy Cận cũng như phần đông các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưrm phương Tây thế kí XX. Tuy vậy, Huy Cận còn là người rất thích-thơ Đường và trân trọng vốn thi ca dân tộc. Trong sáng tác của ông, người ta dễ dàng cảm nhận được dấu ấn Đường thi, cũng như thơ tượng trưng Pháp. Có điều đáng chú ý là chúng đã được Việt hoá, nói cho đúng hơn là đã được Huy Cận hoá một cách nhuần nhị.

Nghệ thuật đối, dù đã được vận dụng uyển chuyển, linh hoạt, không khuôn sáo, cứng nhắc nhưng vẫn giúp tạo ra không khí trang trọng và sự cân xứng, nhịp nhàng cho thơ. Bên cạnh đó, nghệ thuật dùng từ láy như “điệp điệp”, “sons song”,… cũne có hiệu quả nhất định gợi âm hưởng cổ kính.

Trong khổ thơ thứ hai, chính Huy Cận đã thừa nhận: ở trong câu “Lư thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”, ône đã học chữ “đìu hiu” trong bản dịch Chinh phụ ngâm (Non Kì quạnh quẽ trăng treo – Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò). Hơn thế, các hình ảnh đối lập, hình ảnh “chợ chiều vãn” gợi cái buồn da diết, không gian vắng lặng, cô tịch rất cổ điển.

Ở khổ thơ thứ ba và khổ cuối đều có thể tìm thấy những nét gợi nên hình ảnh bức tranh thiên nhiên thường gặp trong thơ xưaế Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo được những âm hưởng kì lạ do tác giả chọn được thể thơ thích hợp, vận dụng tự nhiên lối đối, sử dụng có hiệu quả với tần số cao hệ thống từ láy (10 lần trong 16 dòng thơ) và cách ngắt nhịp truyền thống. Chất cổ điển của bài thơ đặc biệt rõ ở câu thơ cuối Thôi Hiệu nhìn khói sóng mà nhớ đến quê hương – Hoàng Hạc làu, Huy Cận không cần có khói sóng – tức không cần cái gợi nhớ – mà lònơ vẫn dợn dợn nhớ nhà. Rõ ràns nỗi nhớ của Huy Cận da diết hơn, thường trực hơn và cháy bỏng hơn.

Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi, nhưng Tràng giang vẫn là một bài thơ rất Việt Nam, rất gần gũi và thân thuộc. Dòng sông sóng lượn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô bồng bềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều của làng quê, cánh chim trong buổi chiều tà,… Tất cả thật gần gũi với mỗi người Việt chúng ta. Đọc bài thơ này có người nhớ đến cái làng vùng sơn cước heo hút bẽn bờ sông Thâm, tỉnh Hà Tĩnh – nơi chôn nhau cắt rốn của Huy Cận.

Sự hoà quyện của hai hệ thống hình ảnh vừa cổ điển vừa gần gũi, thân thuộc nêu trên tạo nên cho bài thơ một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ mà tinh tế, cổ điển mà quen thuộc.

Câu 4. Tình yêu thiên nhiên và tình yêu nước

Trước Huy Cận, đã có không ít các nghệ sĩ bày tỏ lòng yêu nước một cách xa xôi, bóng gió qua thơ văn. Có thể kể đến Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải, Thề non nước của Tản Đà, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân,… Trước Tràng ỳang, Huy Cận cũng đã từng viết về nỗi buồn sống núi – nỗi buồn của người dân thuộc địa khi giang sơn bị mất chủ quyển. Ở bài thơ này, nỗi buồn sâu xa ấy đã hoà vào nỗi bơ vơ trước tạo vật thiên nhiên hoang vắng và niềm thiết tha với thiên nhiên tạo vật ở đây cũng là niềm thiết tha với quê hương đất nước.

Và thực tế thì, xét ở một phương diện nào đó, Tràng giang đúng là một bài thơ “ca hát non sông đất nước; do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc” (Xuân Diệu).

Câu 5. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

Tràng giang có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật

–    Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính với cách ngắt nhịp quen thuộc (4/3) tạo nên sự cân đối, hài hoà. Thủ pháp tương phản được sử dụng triệt để: hữu hạn / vô hạn; nhỏ bé / lớn lao; không / có,…

Sử dụng thành công các loại từ láy: láy vần (tràng giang, đìu hiu, chót vót, lơ tliơ,…), láy hoàn toàn (điệp diệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,…). Các biện pháp tu từ: nhân hoá, ẩn dụ, so sánh,…

LUYỆN TẬP

GỢI Ý LÀM BÀI

1. Cách cảm nhận về không gian và thời gian trong bài thơ

Tràng giang khắc hoạ một không gian rộng lớn. Tất cả các chiều của không gian đều có xu hướng “mở ra” không giới hạn, tất cả thấm sâu nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn cô đơn của nhà thơ: không gian của dòng sông sóng nước mênh mang như đang chảy về vô tận, rồi từ chiều dọc không gian mở ra chiều neang, lan toả đôi bờ, không gian vũ trụ mở ra bầu trời sâu chót vót.

Tràng giang của đất trời, tràng giang của tâm tưởng nhà thơ không những trôi xuôi theo dòng nước mà còn trôi theo dòng thời gian từ hiện tại về quá khứ xa xôi. Rồi từ dòng sông thời tiền sử, nhà thơ trở về hiện tại để tìm điểm tựa tinh thần ở quê hương, đất nước.

Không gi an nghệ thuật, thời gian nghệ thuật ở Tràng giang đã góp phẩn thể hiện sâu sắc tư tưởng, tinh cảm của tác giả.

2. Câu 2 trang 30 SGK

Ở khổ thơ thứ tư, nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường mà vẩn giữ được nét riêng biệt của thơ mới và vẫn thể hiện được khá rõ nét độc đáo của hồn thơ Huy Cận. Ở đây, thiên nhiên tuy buồn, nhưng thật tráng lệ. Mùa thu, những đám mây trắng đùn lên trùng điệp ở phía chân trời. Ánh dương phản chiếu vào những đám mây đó, phan chiếu lấp lánh như những núi bạc. Lấy lại ý thơ của người xưa (Đỗ Phủ), hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” tạo được ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên. Trước cảnh sông nước, mây trời bao la và hùng vĩ ấy, bỗng hiện lên một cánh chim bé bỏng, nó chỉ cần nghiêng cánh là cả bóng chiều sa xuống. Hình ảnh cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà thườne dễ gợi nỗi buồn xa vắng. Nhưng điều đáng nói hơn ở đây chính là hiệu quá của nghệ thuật đối lập. Đối lập giữa cánh chim đơn độc, nhỏ bé với vũ trụ bao la, hùng vĩ. Phải chăng, điều này làm cho cảnh thiên nhiên rộng hơn, thoáng hơn, hùng vĩ hơn và đặc biệt cũng buồn hơn.

Câu thơ cuối: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi nhớ hai câu thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trèn sông khói sóng cho buồn lòng ai?)

(Tản Đà dịch)

Cũng là nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương trong buổi chiều tàn nhưng hai câu thơ của Huy Cận không phải lặp lại hoàn toàn ý thơ của Thôi Hiệu. Thôi Hiệu buồn, nhớ quê vì ngoại cảnh (khói sóng trên sông). Còn Huy Cận, không cần mượn tới khói sóng, lòng nhà thơ đã sầu buồn rồi. Nỗi buồn ấy là nỗi buồn vạn cổ của con người cô đơn giữa vũ trụ rợn ngợp, bao la.

Soạn bài Tràng Giang cho ta hiểu được nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương trong buổi chiều tàn của Huy Cận, Tràng giang khắc hoạ một không gian rộng lớn. Tất cả các chiều của không gian đều có xu hướng “mở ra” không giới hạn, tất cả thấm sâu nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn cô đơn của nhà thơ. 

 

Hướng dẫn soạn bài Nhớ rừng của Thế Lữ đầy đủ nhất

Nhớ rừng của Thế Lữ  là một bài thơ hay, những ai có chí khí, có khát vọng thoát ra khỏi cuộc sống chật hẹp, tù túng quẩn quanh, gò bó, tầm thường đều thấy phấn khích khi đọc, khi nghe hay đã từng soạn bài Nhớ Rừng. Bài thơ được tác giả đề tặng nhà văn lớn Nhất Linh và có một chú thích rất rõ ràng, cụ thể:”Lời con hổ ở vườn Bác thú”. Đúng vậy, bài  là lời con hổ nhưng lại mang tâm trạng của con người. Và đó không chỉ là tâm trạng của một người, của riêng Thế Lữ mà còn là tâm trạng của một tầng lớp, một thế hệ Đáng tiếc thay, đó lại là tâm trạng gần như bấc lực và bế tắc.

tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật bài viết dưới đây để hướng dẫn các bạn soạn bài Nhớ Rừng của Thế Lữ một cách chính xác và đầy đủ nhất để các bạn có thể hiểu được nội dung bài học và làm bài một cách tốt nhất!

Hướng dẫn soạn bài Nhớ rừng của Thế Lữ đầy đủ nhất

 

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

  1. Tác giả

Thế Lữ (1907-1989), tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. Năm 1929, học xong bậc Thành chung, ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong hoá, Ngày nay. Năm 1937, ông bắt đầu hoạt động sân khấu, làm diễn viên, đạo diễn, lưu diễn tại các tỉnh miền Trung và có hoài bão xây dựng nền sân khấu dân tộc. Cách mạng tháng Tám, ông hào hứng chào đón cách mạng, và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.

Tác giả đã xuất bản: Mấy vần thơ (thơ, 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên đường Thiên lôi (truyện, 1936); Lê Phong phóng viên (truyện, 1937); Mai Hương và Lê Phong(truyện, 1937); Đòn hẹn (truyện, 1939); Gói thuốc lá (truyện, 1940); Gió trăng ngàn(truyện, 1941); Trại Bồ Tùng Linh (truyện, 1941); Dương Quý Phi (truyện, 1942); Thoa(truyện, 1942); Truyện tình của anh Mai (truyện vừa, 1953); Tay đại bợm (truyện vừa, 1953). Ngoài ra Thế Lữ viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư ông (kịch, 1946); Đoàn biệt động(1947); Đợi chờ (1949); Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952); Thế Lữ cũng là dịch giả của nhiều vở kịch của Sếch-xpia, Gơ-tơ, Sin-le và Pô-gô-đin,

  1. Tác phẩm

Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Bài Nhớ rừng đã gắn liền với tên tuổi của ông. Nói đến Thế Lữ không thể không nói đến Nhớ rừng.

Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới những năm đầu thế kỉ XX đã tạo ra sự bùng nổ mãnh liệt, một cuộc cách mạng thật sự trong địa hạt văn chương, nhất là thơ. Những thể thơ cũ (tiêu biểu từ thơ Đường luật) với khuôn khổ cứng nhắc, niêm luật gò bó đã không dung chứa nổi, không còn phù hợp với những tư tưởng, cảm xúc dào dạt, mới mẻ, lúc nào cũng chỉ chực tung phá. Đổi mới thể thơ, đổi mới hình thức câu thơ, các nhà thơ mới đồng thời đưa vào đó những dòng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ, tựa như những dòng nham thạnh bỏng đang tuôn chảy tràn trề. Nhớ rừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho trào lưu mới này.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Câu 1. Bài thơ chia làm 5 đoạn với nội dung mỗi đoạn:

– Đoạn 1: Cảnh ngộ bi kịch – bị tù hãm, bị biến thành thứ đồ chơi của đám người nhỏ bé mà ngạo mạn, ngang bầy với “bọn gấu dở hơi”, “cặp báo (…) vô tư lự” và tâm trạng uất hận, ngao ngán đành buông xuôi bất lực của con hổ.

– Đoạn 2 và đoạn 3: Nỗi nhớ nhung, niềm khao khát tự do mãnh liệt qua hoài niệm về cảnh núi rừng đại ngàn dữ dội, kì vĩ tương xứng với vẻ đẹp oai hùng, sức mạnh vô biên của vị chúa sơn lâm.

– Đoạn 3, ngoài nỗi nhớ, niềm khao khát tự do và sự kiêu hãnh còn có cả nỗi thất vọng, nuối tiếc với tiếng thở dài chua xót của chúa tể rừng xanh: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”.

– Đoạn 4: Sự khinh ghét của con hổ về vẻ đơn điệu, tầm thường và giả dối củ cảnh vườn Bách thú, nơi hoàn toàn đối lập với chốn núi rừng thâm nghiêm, hùng vĩ…

– Đoạn 5: Niềm đau đớn và vô vọng của kẻ anh hùng sa cơ, đành thả hồ trong “giấc mộng ngàn to lớn” – giấc mộng về rừng thẳm, giấc mộng tự do.

Câu 2. Bài thơ có sự tương phản gay gắt giữa cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4) với cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ngày xưa (đoạn 2 và đoạn 3).

a. Cảnh nơi vườn bách thú tù tung (cũi sắt), nhàm tẻ (những cảnh “không đời nào thay đổi”, nhân tạo (chứ không phải là thế giới của tự nhiên), đều do bàn tay sửa sang, tỉa tót của con người và hết sức tầm thường giả dối, “học đòi, bắt chước” đại ngàn hoang vu. Đối laoaj với cảnh vườn Bách thú tầm thường là cảnh núi rừng oai linh, hùng vĩ với vẻ thâm nghiêm bóng cả cây già chứa đựng nhiều bí ấn: “hang tối”, “thaoe hoa không tên tuổi”, “rừng sâu bí mật”, với những âm thanh dữ dội, man dại, “gió gào ngàn”, “nguồn hút núi”. Cảnh vật không chỉ oai hùng, linh nghiêm mà còn rực rỡ vô cùng, “những đêm vàng bên bờ suối”, “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, “những bình minh nắng gọi”, “những chiều lênh láng máu sau rừng”, tươi vui vô cùng: “tiếng chim ca giấc nhủ ta tưng bừng”.

b. Đoạn 2 và 3 là hai đoạn hay nhất của bài thơ miêu tả cảnh rừng núi bạt ngàn phóng khoáng dữ dội mà thơ mộng và hình ảnh vị chúa rừng xanh uy nghi, lẫm liệt ngự trị trong vương quốc của nó.

– Ở đây, tác giả đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh để dựng nên sự kì vĩ của núi rừng cũng như tư thế uy nghi của con mãnh thú: tung hoành, hóng hách, gào, thét, hút, dữ dội, dõng dạc, cuộn, quắc. Cộng thêm là cách dùng đại từ xưng hô “Ta” đầy quyền uy và kiêu hãnh, góp phần tôn xưng tư thế vị chúa sơn lâm.

– Hình ảnh phong phú, gợi cảm, đặc biệt giàu chất tạo hình. Giữa cảnh núi rừng kì vĩ hiện lên (hình ảnh) oai linh của chúa sơn lâm. Trước khi để con hổ xuất hiện, tác giả dựng lên một không gian rộng lớn, một không khí oai hùng kinh sợ. Khi rừng xanh “thét gào khúc trường ca dữ dội, chúa sơn lâm xuất hiện. Trước hết là bàn chân, một bước chân dõng dạc đường hoàng và sau đó mới là tấm thân với chiều dài uốn lượn của tấm lưng “lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng vờn bóng âm thầm lá gai, cỏ sắc” rất uyển chuyển, mềm mại – một vẻ đẹp của sự “tích trữ sức mạnh” (Vũ Quốc Phương).

Cuối cùng, tác giả tập trung thể hiện ánh mắt “mắt thần khi đã quắc là khiến mọi vật đều im hơi”. Cách chọn lựa các chi tiết đã giúp tác giả thể hiện được vẻ đẹp vừa dũng mãnh vừa mềm mại của chúa sơn lâm. Nếu đoạn 2, Thế Lữ tập trung thể hiện các chi tiết lấy từ sinh hoạt của ác thú, từ đó, người đọc cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp và sức mạnh của chúa rừng xanh. Có bốn cảnh như một bộ tứ bình những nét đậm rõ, những mảng màu lớn đậm: đêm trăng, ngày mưa, sáng xanh chiều đỏ. Đối diện với bốn khung cảnh của thiên nhiên vũ trụ, con hổ đều ở thế ngự với những tư thế chủ động. Có khi là thi sĩ mơ màng “đứng uống ánh trăng tan”, khi là nhà hiền triết “lặng ngắm giang sơn”, khi thành bậc đế vương có “chim ca” hầu “giấc ngủ”, khi lại là bạo chúa làm chủ bóng tối. Ở đoạn 3, sức mạnh của con mãnh thú không còn giới hạn chỉ trong xứ sở của mình mà mở ra phạm vi vũ trụ. Tập trung khắc họa uy quyền của vị chúa tể rừng xanh, vũ trụ là hình ảnh: Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng  Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật Hình ảnh rực rỡ và dễ sợ trong gam màu đỏ của máu lênh láng. Nhưng đây không phải màu của con thú rừng xấu số nào đó mà của mặt trời trong giây phút hấp hối. Ánh tà dương lúc mặt trời sắp tắt qua cảm nhận của con mãnh thú chính là sắc màu lênh láng đó. Nếu từ “chết” biến mặt trời thành một sinh thể đang hấp hối sau một cuộc đọ sức ghê gớm thì từ “mảnh” đã nâng cao vị thế của chúa sơn lâm. Dưới con mắt của nó, mặt trời cũng chỉ là “mảnh” mà thôi, thật nhỏ bé và thảm hại! Bàn chân ngạo nghễ của con thú như đã dậm đạp lên cả bầu trời và cái bóng của nó như bao trùm cả vũ trụ. Thế Lữ, với hình ảnh này, đã nâng con mahx thú này lên tầm vóc vũ trụ với bút pháp cường điệu.

– Giọng điệu rất phong phú: khi hào hùng sôi nổi mà đĩnh đạc (Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa… Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi), khi than thở nuối tiếc mà xót xa, mà chất vấn. Giọng điệu đó hù hợp tâm trạng con hổ từ đỉnh cao huy hoàng của sự hồi tưởng, hổ sực tỉnh cảnh ngộ tù hãm.

c. Với việc tạo dựng hai cảnh tưởng đối lập như đã nêu trên, Thế Lữ đã thể hiện thành công tâm sự con hổ ở vườn Bách thú. Đó là nỗi bất hòa, chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt. Trước hết đây là tâm trạng của nhân vật lãng mạn: khát khao vươn tới cái cao cả phi thường, không chấp nhận cái tầm thường, vô nghĩa. Khao khát ấy là một cách thức khẳng định cái “tôi”, khẳng định cá tính. Với khát khao đó, con người lãng mạn mang tâm trạng bất hòa với thực tại, bởi thực tại chỉ là tầm thường bó buộc, giam hãm, đối lập với ước mơ, sự tự do, cái cao cả. Hơn thế, có ý kiến cho rằng tâm sự con hổ ở đây có bóng dáng xa gần với tâm trạng người dân Việt Nam mất nước lúc bấy giờ. Họ cũng sống trong cảnh nô lệ “bị nhục nhằn tù hãm”, cũng ‘ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt”, cũng tiếc nhớ khôn nguôi “thời oanh liệt” với những trang sử vẻ vang của cha ông.

Câu 3. Với hình ảnh con hổ, tác giả đã có một biểu tượng rất thích hợp và vẻ đẹp để thể hiện chủ đề bài thơ.  Con hổ có một vẻ đẹp oai hùng, lại được coi là chúa sơn lâm, huy hoàng đầy hống hách ở chốn đại ngàn sâu thẳm, trong vũ trụ rộng lớn, hay bị giam hãm trong cũi sắt là biểu tượng rất đắt về anh hùng chiến bại mang tâm sự u uất. U uất vì tù túng, mà phải chấp nhận cái tẻ nhạt, tầm thường. Cảnh rừng khoáng đạt, hùng vĩ – giang sơn của chúa sơn lâm – là biểu tượng của thế giới rộng lớn, tự do và cao cả. Với hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng đó, nhà thơ rất thuận lợi trong việc nói lên tâm sự và cảm hứng lãng mạn của mình.

Câu 4. Dàn ý sơ lược.

a. Giải thích ý kiến:

– Hoài Thanh đề cập đến nội dung cảm xúc mãnh liệt tương ứng với một hình thức thể hiện khoáng đạt, linh hoạt.

– Từ đó, ông đánh giá tài ghệ của Thế Lữu trong việc “điều khiển đội quân Việt ngữ”.

b. Chững minh ý kiến của Hoài Thanh: ý kiến đó được thể hiện rõ ở những khía cạnh:

– Cảm xúc phong phú, mãnh liệt.

– Sự mãng liệt của cảm xúc thể hiện qua:

+ Giọng thơ sôi nổi, da diết và hùng tráng với nhịp điệu linh hoạt.

+ Mạch thơ cuồn cuộn, dạt dào.

+ Hình ảnh thơ rực rỡ giàu tính tạo hình, biểu cảm với những so sánh và ẩn dụ táo bạo.

Từ ngữ phong phú được sử dụng rất ấn tượng, đắc địa.

Tóm lại, “Nhớ rừng” của Thế Lữ  là một “khúc trường ca dữ dội” thể hiện tâm trạng vĩ đại của chúa sơn lâm đồng thời là một tác phẩm hội họa hoành tráng, kì vĩ làm hẳn lên mặt bằng câu chữ hình tượng vị “chúa tể cả muôn loài”.
Với tài liệu mà  tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật trên đây, hi vọng đã mang lại cho các bạn những tham khảo hữu ích để học bài và Soạn bài Nhớ Rừng của Thế Lữ một cách đầy đủ bà hiểu sâu được nội dung bài học. Chúc các bạn học tập tốt, theo dõi chúng tôi để cập nhật thêm nhiều bài viết khác nữa nhé! 

 

Tổng hợp những bài văn hay: Hướng dẫn soạn bài Bức tranh của em gái tôi

Bức tranh của em gái tôi– một tiêu đề ngắn gọn nhưng lại chứa đựng một thông điệp vô cùng ý nghĩa về tình cảm gia đình, tình cảm anh em mà Tạ Duy Anh muốn gửi gắm tới tất cả bạn đọc chúng ta. Tạ Duy Anh là một cây bút trẻ trong thời kỳ đổi mới của văn học. Tác giả đã có những truyện ngắn hay gây được sự chú ý của bạn đọc. Truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi đoạt giải nhì trong cuộc thi viết với đề tài Tương lai vẫy gọi của Báo thiếu niên Tiền phong.

Qua câu chuyện về người anh và cô em gái có tài hội họa, truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi  cho thấy tình cảm trong sáng hồn nhiên và lòng nhân hậu của cô em đã gúp cho người anh nhận ra những hạn chế ở chính mình. Từ đó có suy nghĩ và thái độ ứng xử đúng đắn, thắng được thói ghen tị trước tài năng hay thành công của người khác.

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Câu 1 : Kể tóm tắt truyện Bức tranh cùa em gái tôi (Tạ Duy Anh)

Trả lời:

Chuyện kể về hai anh em Kiều Phương. Anh trai bực minh vì em gái hay nghịch bẩn, bừa bãi. Kiều Phương bí mật học vẽ, tài năng hội hoạ của bé được bất ngờ phát hiện. Người anh buồn, coi thường, ghen tị và trở nên gắt gỏng với em vô cớ bởi thấy mình thua kém em. Em gái thành công trong cuộc thi tranh, cả nhà mừng vui, người anh gượng đi xem triển lãm tranh của em. Đứng trước bức tranh của Kiểu Phương, người anh hối hận vô cùng.

Câu 2: Đọc kĩ truyện rồi trả lời các câu hỏi:

a)    Nhân vật chính trong truyện là ai? Vì sao em lại cho đó là nhân vật chính?

b)    Truyện được kể theo lời nhân vật nào? Việc lựa chọn ngôi kể như vậy có tác dụng gì?

Trả lời:

a)     Nhân vật chính trong truyện là người anh. Vi tác giả muốn thể hiện chủ để sự ăn năn, hối hận để khắc phục tính ghen ghét, đố kị trong tình bạn, tình anh em.

Truyện được kể theo lời nhân vật người anh. Việc lựa chọn ngôi kể như vậy rất thích hợp với chủ đề, hơn nữa để cho sự hối hận được bày tỏ một cách chân thành hơn, đáng tin cậy hơn.

Câu 3: Em hãy cho biết:

a)  Diễn biến tâm trạng của nhân vật người anh qua các thời điểm: từ trước cho đến iúc thấy em gái tự chế màu vẽ, khi tài năng hội hoạ của em gái được phát hiện, khi lén xem những bức tranh em gái đã vẽ và khi đứng trước bức tranh được giải nhất của em gái trong phòng trưng bày.

b) Vì sao khi tài nãng hội hoạ ở em gái minh được phát hiện, người anh lại có tâm trạng không thể thân với em gái như trước kia được nữa?

c) Giải thích tâm trạng của người anh khi đứng trước bức tranh “ Anh trai tôi ” của em gái: Thoạt nhiên là sự ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ.

Trá lời:

a) – Thoạt đầu khi thấy em gái thích vẽ và mày mò tự chế tạo màu vẽ, người anh rhi coi đó là những trò nghịch ngợm của trẻ con và nhìn bằng con mắt’ kẻ cả, không rần để ý đến việc Mèo con đã vẽ những gì.

–  Khi tài năng hội hoạ của em gái được phát hiện, người anh cảm thấy buồn. Cậu u thất vọng về mình vì không tìm thấy ở mình một tài năng nào cả và cảm thấy T.ình bị cả nhà lãng quên. Từ đó cậu nảy sinh khó chịu, hay gắt gỏng với em gái và L~.ông thể thân với em như trước nữa.

–  Khi lén xem những bức tranh do em gái vẽ, người anh thầm cảm phục tài năng rũa em gái mình.

–    Khi đứng trước bức tranh được tặng giả Nhất của em gái, tâm trạng của anh đi ngạc nhiên đến hãnh diện, rồi xấu hổ.

b) Khi tài năng của em được phát hiện, người anh lại cảm thấy không thể thân với như trước nữa vì người anh thấy tự ái và mặc cảm, tự ti khi thấy người khác có năng nổi bật hơn mình.

c) Khi đứng trước bức tranh của em gái người anh thoạt nhiên là sự ngỡ ngàng bởi đó là bức tranh vẽ chính mình qua cái nhìn của em gái:  Trong tranh một chú bé ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chú bé toả ra một thứ ánh sáng rất lạ. Toát lên từ cặp mắt, tư thế ngồi của chú không chì sự suy tư mà còn rất mơ mộng nữa Trong phút chốc, tâm trạng của cậu đi từ ngạc nhiên đến hãnh diện xấu hổ. Cậu thấy mình hiện ra với những nét đẹp trong bức tranh của em gái. Còn xấu hổ là vì thấy mình không xứng với bức tranh.

Câu 4: Em hiểu như thế nào về đoạn kết của truyện (Tôi không trả lời mẹ… lòng nhân hậu của em con đấy)? Qua đó, em có cảm nghĩ như thế nào về nhân vật người anh?

Trá lời:

Câu nói trong tâm trí của người anh thể hiện sự hối hận chân thành, sự ăn năn, sám hối, bị thuyết phục, tự thức nhận về bản thân, về em gái.

Người anh đáng trách nhưng cũng đáng cảm thông vì những tính xấu chỉ là nhất thời. Sự hối hận, day dứt nhận ra tài năng, quan trọng hơn, nhận ra tâm hồn trong sáng nhân hậu của em gái chứng tỏ cậu cũng là một người biết sửa mình, muốn vươn lên, biết được tính ghen tị là xấu xa.

Câu 5: Em có cảm nhận gì về nhân vật cô em gái trong truyện? Điều gì khiến e cảm mến nhất ở nhân vật này?

Trả lời:

Kiều Phương là cô bé hồn nhiên, hiếu động, tài năng hội hoạ, tình cảm tro sáng và có lòng nhân hậu.

Điều làm em cảm mến nhất ở Kiều Phương chính ỉà tinh cảm trong sáng, tốt đẹp giành cho người anh

II. LUYỆN TẬP BÀI BỨ C TRANH CỦA EM GÁI TÔI

Bài 1: Viết một đoạn văn thuật lại tâm trạng của người anh trong truyện khi trước bức tranh được giải nhất của em gái.

Trá lời:

Đứng trước bức tranh em gái vẽ mình, người anh giật sững người. Chẳng hiểu sao anh phải bám chặt lấy mẹ. Thoạt nhiên là sự ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ. Dưới con mắt của em gái, anh trai hoàn hảo đến thế ư? Anh trai nhìn như thôi miên vào dồng chữ đề trên bức tranh: “Anh trai tôi”. Vậy mà dưới con mắt anh thì …

Con đã nhận ra con chưa?- Mẹ vần hồi hộp.

Người anh không trả lời vì anh muốn klióc quá. Bởi vì nếu nói với mẹ, anh nối rằng: “Không phái con đâu. Đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy

Bài 2: Giả định một thành viên trong lớp hoặc trong gia đình em đạt được thành tích xuất sắc nào đó. Thử hình dung và tả lại thái độ của những người xung qu trước thành tích ấy.

Trả lời:

Để viết được bài miêu tả, cần suy nghĩ về các trạng thái tình cảm trước (buồn vui, hờn giận, ganh tị, ngạc nhiên, sung sướng, thấy đó là động lực,..) Có thể chọn một trạng thái để miêu tả hoặc khéo léo kết hợp hai hay nhiều trạng thái cảm xúc đã nêu trên. Học cách miêu tả trong bài hoặc trong đoạn văn trên.

NHỮNG BÀI VĂN MẪU HAY : BỨC TRANH EM GÁI TÔI

Đề 1: Cảm nhận của em sau khi học xong truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi của Tạ Duy Anh

Bức tranh của em gái tôi là truyện ngắn đoạt giải cao nhất (giải nhì) trong cuộc thi viết Tương lai vẫy gọi của báo Thiếu niên Tiền phong. Tác giả Tạ Duy Anh, một cây bút trẻ xuất hiện trong văn học thời kỳ đổi mới đã có những truyện ngắn gây được sự chú ý của đông đảo người đọc. Tác phẩm kể một câu chuyện khá gần gũi với đời sông bình thường. Câu chuyện xảy ra trong một gia đình có hai anh em: người anh và cô em gái tên Kiều Phương.

Truyện Bức tranh của em gái tôi đã mở ra một tình huống hấp dẫn, có kịch tính và đã miêu tả tinh tế tâm lý nhân vật người anh qua cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất. Cả hai nhân vật trong chuyện – người anh và cô em gái – đều được miêu tả rất sống động, rất thật, gần gũi vớt cuộc sống tuổi thơ của các em. Câu chuyện cuốn hút người đọc qua diễn biến tâm trạng và thái độ của người anh qua ba thời điểm.

Mở đầu, Tạ Duy Anh đã để cho người anh tự giới thiệu về em gái mình với cái tên có ý để chê bai: “Mèo” và thể hiện thái độ “khó chịu” với sự lục lọi của .“Mèo”:

Này, em không để chúng nó yên được à?.

Khi phát hiện thấy em gái thích vẽ và mày mò tự chế tạo màu vẽ, người anh chỉ coi đó là những trò nghịch ngợm của trẻ con và nhìn nó bằng cái nhìn kẻ cả với thái độ coi thường, không cần đế ý đến việc “Mèo con” đã vẽ những gì – thì ra nó chế thuốc vẽ. Thảo nào cái đít xoong, chảo bị nó cạo trắng cả.

Qua lời nhận xét của người anh, người đọc thoáng thấy trong suy nghĩ người anh “Mèo thì vẽ vời gì?”.

Câu chuyện tưởng chừng như xảy ra bình thường. Một tình huông bất ngờ đã xảy ra, kịch tính của chuyện bắt đầu từ đây : nhưng mọi bí mật của Mèo cuối cùng cũng bị bại lộ… Tài năng hội họa của cô em được phát hiện thì tâm trạng người anh cũng bị biên đổi. Trong khi cả bố, mẹ, chú Tiến Lê đều ngạc nhiên vui mừng sung sướng thì người anh lại cảm thấy buồn và thất vọng vì không tìm thấy ở mình một tài năng nào và cảm thấy mình bị cả nhà lãng quên. Từ đó mà nảy sinh thái độ khó chịu, hay gắt gỏng với em gái và không thể thân với em gái như trước nữa. Chỉ cần một lỗi nhỏ là tôi gắt um lên. Tâm lí mặc cảm tự ti đã khiến cho người anh đau khổ: những lúc ngồi học bên bàn, tôi chỉ muôn gục xuông khóc. Đến nỗi vẻ mặt đáng yêu của cô em gái Kiều Phương trừ kia, bây giờ cũng làm cho cậu khó chịu, cảm thấy như đang bị “chọc tức”… Dẫu vậy, tâm lí tò mò vẫn xui khiên cậu ta xem trộm những bức tranh của cô em gái, để rồi khi xem xong thì khiến cậu lén trút ra một tiếng thở dài… Phải chăng đó là giây phút đầu tiên mà người anh cảm phục tài năng của Kiều Phương? Đến đây, người đọc chắc có lẽ đã hài lòng hơn với thái độ của người anh. Độ “căng” của truyện dường như được chùng xuống.

Truyện vẫn tiếp tục hấp dẫn người đọc với những bất ngờ liên tiêp mà người anh được chứng kiến khi đứng trước bức tranh được giải nhất của em gái mình. Cậu đã nhận ra mình trong bức tranh. Bất ngờ hơn là: Trong tranh, một chú bẻ đang ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chủ bé như toả ra một thứ ánh sáng rất lạ. Toát lên từ cặp mắt, tư thế ngồi của chú không chỉ sự suy tư mà còn rất mơ mộng nữa. Vì thế, sau cái “giật sững mình” là một diễn biến tâm trạng đầy phức tạp nhưng lại rất dễ hiểu và đúng với nhân vật lúc đó: thoạt tiên là sự ngỡ ngàng rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ. Ngỡ ngàng là vì không thể ngờ lại có bức tranh như thế. Hãnh diện là vì thấy mình hiện ra với những nét đẹp đến như vậy trong bức tranh của em gái. Nhưng điều quan trọng hơn là người anh không dừng lại ở sự hãnh diện, thoả mãn mà đã thấy “xấu hổ”. Đây chính là lúc nhân vật đã nhận ra được những yếu kém cùa mình, thấy mình không xứng đáng được như vậy: Dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo thế kia ư. Trong giây phút xấu hổ này, người anh đã nhận ra một điều sâu sắc: bức chân dung của mình được vẽ lên bằng “tâm hồn và lòng nhân hậu” của cô em gái. Và đây cũng là lúc nhân vật tự thức tỉnh để hoàn thiện nhân cách của mình.

Kiều Phương với biệt danh là “Mèo” rất hồn nhiên, hiếu động, có tài năng hội hoạ hiếm có. Đặc biệt “Mèo” có tình cảm trong sáng và lòng nhân hậu, đây mới là đáng quí của em. Lòng nhân hậu của em thể hiện rõ trong bức tranh “Anh trai tôi”. Soi vào bức tranh ấy, cũng tức là soi vào tâm hồn trong sáng và nhân hậu của em gái, giúp cho người anh tự nhìn rõ mình hơn để vượt lên được những hạn chế của tính đố kị, lòng tự ái và tự ti.

Truyện đã đem đến cho mỗi người chúng ta bài học ứng xử trong cuộc sống: cần có thái độ thiện chí, có sự trân trọng và niềm vui thực sự chân thành trước thành công hay tài năng của người khác, ngay cả khi người đó là bạn bè trong lớp hay người thân trong gia đình.

Với cách kể chuyện hấp dẫn, nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật tỉnh tế, Tạ Duy Anh đã cuốn hút người đọc vào truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi. Truyện có tác dụng truyền cảm để rồi mỗi người tự rút ra bài học một cách tự nhiên, thấm thía: hãy lấy “nhân hậu” làm tiêu chuẩn để soi sáng cho tâm hồn của chính mình.

Đề 2: Cảm nhận về nhân vật cô em gái (Kiều Phương) trong truyện ngắn Bừc tranh của em gái tôi của Tạ Duy Anh

Trong chương trình ngữ văn lớp 6 – tập II, em đã được học truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi và nhân vật Kiều Phương, cô em gái với lòng nhân hậu đã toả sáng trong tâm trí em.

Học xong truyện, em vẫn biết rõ ràng truỵện không đơn giản khẳng định, ca ngợi những nét phẩm chất tốt đẹp của nhân vật cô em gái mà chủ yếu muốn hướng người đọc tới sự tự thức tỉnh ở nhân vật người anh qua việc trình bày những diễn biến tâm trạng của nhân vật này trong suốt truyện. Đây mới chính là chủ đề của tác phẩm. Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề của văn bản . Vì thế, người anh phải là nhân vật trung tâm” trong việc thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm. Thế nhưng nhân vật Kiều Phương vẫn làm cho em vô cùng cảm phục và trân trọng biết bao!

Vẻ đẹp của Kiều Phương không phải do lời kể của tác giả, cũng không phải do nhân vật tự bộc bạch mà vẻ đẹp đó được hiện ra dần dần qua con mắt nhìn và lời kể truyện của chính người anh.

Một người anh luôn “coi thường” những việc làm của cô em gái, đố kị trước tài năng của em gái mình, vẻ đẹp đó càng ngày càng đẹp, cho đến cuối truyện thì vẻ đẹp ấy đọng lại một cách sâu sắc trong lòng người anh và gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc.

Vẻ đẹp đó là gì? Phải chăng là sự hồn nhiên, hiếu động, tài năng hội hoạ, tình cảm trong sáng và lòng nhân hậu?

Không hồn nhiên thì sao khi có biệt hiệu là “Mèo”, “nó vui vẻ chấp nhận” và còn dùng cái tên đó để xưng hô với bạn bè. Sự hồn nhiên đó còn được thể hiện lúc ở nhà mèo hay lục lọi các đồ vật với một sự thích thú. Hồn nhiên hơn là “nó vênh mặt”- “Mèo mà lại! Em không phá là được…”. Khi người anh tỏ vẻ khó chịu Này, em không để chúng nó yến được à?. Khi chế xong bột vẽ, nó vừa làm vừa hát, có vẻ vui lắm. Đúng là một cô bé hồn nhiên quá! Hồn nhiên đến đáng yêu!

Điều đáng yêu hơn là cô còn có một tài năng hội hoạ, theo lời chú Tiến Lê, đấy còn là một thiên tài hội hoạ. Tài năng đó chính là sáu bức tranh do “Mèo” vẽ dấu người anh, không ngờ là những bứt tranh độc đáo “có thể đem đóng khung treo ở bất cứ phòng tranh nào”. Bố của “Mèo” đã phải thốt lên sung sướng: Ôi con đã cho bố một bất ngờ quá lớn. Mẹ em cũng không kìm được xúc động.

Tài năng của Kiều Phương được khẳng định bằng bức tranh được trao giải nhất, qua một tuần tham gia trại thi vẽ quốc tế,

khiến cho cả nhà “vui như tết”. Duy chỉ có người anh của Mèo thì lại rất buồn. Hiểu được điều này, Kiều Phương đã dành cho anh trai những tình cảm rất trong sáng. Nó lao vào ôm cổ tôi, nhưng tôi viện cớ đang dở việc đẩy nhẹ nó ra. Tuy thế, nó vẫn kịp thì thầm vào tai tôi: Em muốn cả anh cùng đi nhận giải. Một hành động, một lời nói thôi đã toát lên một tâm hồn ngây thơ trong sáng của một cô bé đáng yêu!

Con có nhận ra con không?…

Con đã nhận ra con chưa? Làm sao con trả lời được mẹ. Bởi đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy. Phải chăng soi vào bức tranh ấy, cũng chính là soi vào tâm hồn trong sáng và nhân hậu của em gái, nhân vật người anh đã tự nhìn rõ hơn về mình để vượt lên được những hạn chế của lòng tự ái và tự ti: Dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo đến mức kia ư?. Đây chính là lúc nhân vật tự “thức tỉnh” để hoàn thiện nhân cách của mình.

Bức tranh của em gái tôi không được vẽ bằng chất liệu hội hoạ. Nó được vẽ bằng quá trình diễn biến tâm trạng của người anh, thông qua lời kể vô cùng xúc động của nhân vật. Đó là “Mèo con” có tấm lòng nhân hậu. Đấy cũng là vẻ đẹp của một em bé gái trong cuộc sống đời thường mà ta có thể gặp bất cứ ở đâu trên đất nước mình.

Đề 3: Nghệ thuật đặc sắc truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi của cây bút trẻ Tạ Duy Anh

Truyện Bức tranh của em gái tôi không dài (chỉ hơn hai trang sách), nhưng cũng đủ để cho ta thấy tài năng của tác giả qua cách kể chuyện và xây dựng hệ thống nhân vật.Tạ Duy Anh là một cây bút trẻ xuất hiện trong văn học thời kì đổi mới, đã có những truyện ngắn gây được sự chú ý của bạn đọc bởi nghệ thuật đặc sắc và phong cách riêng biệt, độc đáo của mình. Trong đó có tác phẩm Bức tranh cửa em gái tôi. Truyện đã đạt được giải nhì (giải cao nhất) trong cuộc thi viết Tương lai vẫy gọi do báo Thiếu niên Tiền phong phát động.

Trước hết phải kể đến phương thức kể chuyện. Tạ Duy Anh đã lựa chọn ngôi kể chuyện là ngôi thứ nhất. Truyện được kể bằng lời kể của nhân vật nguời anh. Lựa chọn như vậy giúp cho việc miêu tả tâm trạng của nhân vật sinh động hơn, có nghĩa là lời kể tự nhiên hơn và bộc lộ tâm trạng kín đáo, sâu sắc hơn. Theo cách kể này thì diễn biến tâm trạng, sự biến đổi về cách nhìn của người anh đối với cô em  gái, và cả vẻ đẹp của người em gái sẽ được thể hiện một cách tự nhiên. Qua người anh, ta thấy được sự thức tỉnh của cậu ta, lại vừa thấy rõ vẻ đẹp của cô em gái. Nhờ vậy mà chủ đề tác phẩm càng được bộc lộ sâu sắc. Bài học về sự tự đánh giá, tự nhận thức càng thấm thìa hơn với người anh.

Người đọc đánh giá rất cao nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật qua diễn biến tâm trạng và thái độ của người anh và cô em gái. Nhờ vậy, truyện đã dẫn dắt ta từ tình huống bất ngờ này đến những bất ngờ khác, liên tiếp từ đầu cho đến khi kết thúc.

Diễn biến tâm trạng của người anh được xây dựng bằng chính lời kể của nhân vật. Tâm trạng đó được thay đối qua diễn biến của câu chuyện: thoạt đầu, khi thấy em gái vẽ và mày mò tự chế thuốc vẽ; khi tài năng hội hoạ của cô em gái được phát hiện; và ở cuối truyện, khi đứng trước bức tranh được giải nhất của em gái mình.

Thoạt đầu là thái độ coi thường việc làm của Kiều Phương. Khi thấy em gái vẽ và mày mò tự chế tạo màu vẽ, người anh chỉ coi đó là những trò nghịch ngợm của trẻ con và nhìn bằng cái nhìn kẻ cả, không cần để ý đến “Mèo con” đã vẽ những gì. Cách nhìn ấy được thể hiện qua giọng kể của người anh: tôi quen gọi nó là Mèo bởi vì mặt nó luôn bị chính nó bôi bẩn. “Mèo” luôn bị nhắc nhở vì hay lục lọi các đồ vật trong nhà: Này, em không để chúng nó yên được à? Khi phát hiện được cô em nhào bột vẽ, người anh buông một câu: Thảo nào các đít xoong chảo bị nó cạo trắng cả. Quả thật, thái độ của những người làm anh trong một gia đình thường coi em gái mình là như vậy!

Khi tài năng hội hoạ của người em được phát hiện thì tâm trạng của người anh cũng bị biến đổi. Do tình cờ mà chú Tiến Lê phát hiện ra năng khiếu hội họa của người em. Sáu bức tranh của người em làm cho bố, mẹ và mọi người đều ngạc nhiên, vui mừng, sung sướng. Duy có người anh lại cảm thấy buồn, buồn vì cảm thấy mình bất tài và cho rằng vì lí do đó mà mình bị đẩy ra ngoài, bị cả nhà lãng quên. Sống với tâm trạng như vậy, người anh không thể thân với em gái như trước nữa, rồi đối xử với em gái không công bằng chỉ cần một lỗi nhỏ ở nó là tôi gắt um lên. Tâm lí măc cảm, tự ti đã khiến người anh những lúc ngồi bên bàn học chỉ muốn gục xuống khóc. Thậm chí vẻ mặt ngộ nghĩnh của em gái trước kia bây giờ làm cho người anh vô cùng khó chịu, cảm thấy như mình đang bị “chọc tức”. Đây là một kiểu tâm lí dễ gặp ở mọi người, nhất là ở tuổi thiếu niên, đó là lòng tự ái và mặc cảm tự ti khi thấy người khác có tài năng nổi bật. Phải là người am hiểu tâm lí trẻ em lắm, tác giả mới đưa ra một tình huống thay đổi tâm lí của người anh hấp dẫn và tạo được kịch tính cho truyện hay đến như vậy!

Một tình huống quan trọng hơn nữa đã tạo nên điểm nút của diễn biến tâm trạng nhân vật người anh là ở cuối truyện. Đó là một loạt các bất ngờ liên tiếp đến với người anh, khi cậu ta đứng trước bức tranh được tặng giải nhất của người em. Điều bất ngờ trước tiên là bức tranh lại vẽ chính cậu. Hơn thế nữa, điều cậu không thể ngờ được còn là hình ảnh mình qua cái nhìn của người em gái: Trong tranh, một chú bé đang ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chú bé như toả ra một thứ ánh sáng rất lạ. Toát lên từ cặp mất, tư thế ngồi của chú không chỉ suy tư mà còn rất mơ mộng nữa! Trong phút chốc, tâm trạng của cậu đã đi từ ngạc nhiên đến hãnh diện rồi xấu hổ. Ngạc nhiên vì bức tranh lại chính là cậu, bức tranh ấy hoàn toàn bất ngờ với cậu. Còn hãnh diện thì cũng dễ hiểu vì cậu thấy mình hiện ra với những đường nét đẹp trong bức tranh của cô em gái. Nếu Tạ Duy Anh để tâm trạng của người anh kết thúc tại đây thì truyện chẳng có gì phải bàn nữa. Nhưng điều quan trọng hơn mà tác giả đã khơi dậy được là người anh đã không dừng lại ở sự hãnh diện thoả mãn, mà đó là tâm trạng xấu hổ. Trạng thái xấu hổ của cậu đã “cởi nút” cho kịch tính của truyện. Và đấy cũng chính là lúc nhân vật tự thức tỉnh để hoàn thiện nhân cách của mình. Dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo đến thế kia ư? Một câu bỏ lửng có dụng ý nghệ thuật của tác giả. Vạy mà dưới mắt tôi thì… để người đọc tự hình dung ra trạng thái dằn vặt, sự thức tỉnh của nhân vật. Nhưng cũng phảng phất đâu đó lời nhắc rất “khẽ”: mỗi người hãy tự nhìn lại chính mình.

Nhân vật Kiều Phương – cô em gái – được tác giả xây dựng rất nhẹ nhàng qua các phương diện: ngoại hình (nét mặt), cử chỉ và hành động (tò mò, hiếu động, mê vẽ tranh), qua thái độ và quan hệ với người anh chứ không phải trải qua sự căng thẳng về tâm trạng như người anh. Cái đặc sắc ở đây là tác giả đã để cho vẻ đẹp của cô em gái được hiện ra dần dần qua con mắt nhìn và lời kể của người anh, ngày càng đẹp cho đến cuối truyện thì vẻ đẹp ấy đọng lại một cách sâu sắc trong lòng người anh và gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc: một cô gái có tài năng và được đánh giá cao nhưng Kiều Phương vẫn không hề mất đi sự hồn nhiên, trong sáng của tuổi thơ và nhất là vẫn dành cho anh trai những tình cảm thật tốt đẹp, thể hiện ở bức tranh “Anh trai tôi”. Soi vào bức tranh ấy, cũng chính là soi vào tâm hồn trong sáng, nhân hậu của em gái, nhân vật người anh đã tự nhìn rõ hơn về mình để vượt lên những hạn chế của lòng tự ái và tự ti.

Bức tranh của em gái tôi là một câu chuyện rất đời thường, tưởng chừng như không có chất văn. Nhưng bằng tài năng sáng tạo nghệ thuật, Tạ Duy Anh đã thành công trong việc khắc hoạ tính cách các nhân vật trong truyện bằng chính lời kể rất thật và xúc động của người anh. Không cần phải “lên gân” mà tác phẩm đã gợi ra những điều sâu sắc về mối quan hệ, thái độ, cách ứng xử giữa người này với người khác trong cuộc sống hàng ngày. Tác phẩm đã để lại nhiều dư vị cho người đọc.

tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật tổng hợp  đầy đủ tài liệu về tác phẩm Bức tranh của em gái tôi, hi vọng đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về bài học. Chúc các bạn học tập tốt và rút ra được những bài học quý báu mà tác giả muốn gửi gắm ở tác phẩm. Theo dõi chúng tôi để cập nhật thêm nhiều tài liệu khác nữa hỗ trợ cho môn học của mình. 

Soạn bài Sóng: Cảm nhận về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Nói đến tình yêu đôi lứa đó có lẽ không còn xa lạ với chúng ta, bởi  với mỗi con người, tình yêu là một thứ tình cảm không thể thiếu trong cuộc sống. Cũng chính vì thế mà đề tài tình yêu luôn được những nhà văn nhà thơ thể hiện trong tác phẩm của mình. Tuy nhiên không vì thế mà nó trở nên nhàm chán hay đơn điệu  bởi ở mỗi con người là cả một thế giới thể hiện khác nhau. Nếu ta bắt gặp một tình yêu mãnh liệt vội vàng  ở Xuân Diệu thì khi đến với Soạn bài Sóng Xuân Quỳnh ta lại cảm nhận được  một tình yêu  chân thành nhưng không kém phần sâu sắc.

Bài thơ Sóng được sáng tác năm 1967 trong một chuyến đi vùng biển Diên Điền. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào, Nhà xuất bản văn học 1968.

Bằng cách diễn tả chân thực, tự nhiên cùng với cách cấu tứ giản dị nhưng, sắc sảo dễ đi vào tâm trí người đọc, bằng tiếng nói đầy cảm xúc và có sắc thái riêng đậm nữ tính, Xuân Quỳnh đã thêu dệt nên bài thơ bằng hình tượng trung tâm “sóng”.

Cách đây mấy trăm năm, thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nhắc đến con sóng khi viết về mối tình Kim – Kiều : “Sóng tình dường đã xiêu xiêu” hoặc “Lạ cho cái sóng khuynh thành”. Và hơn một lần Xuân Diệu cũng đã có câu thơ về sóng “Dâng cả tình yêu lên sóng mắt”. Hay “Anh xin làm sóng biếc, Hôn cát mãi vàng em”. Và như thế nữ sĩ đã nối tiếp truyền thống trong văn học ta là lấy sóng nước để hình dung với sóng tình. Nhà thơ mượn hình tượng sóng để diễn ta những cảm xúc, tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong phú phức tạp vừa tha thiết sôi nổi của trái tim đang rạo rực khát khao yêu đương. Sóng trở thành hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự phân thân, hoá thân của cái tôi trữ tình, một kiểu đặc biệt của cái tôi trữ tình nhập vai.

Cùng với hình tượng “sóng”, trong bài thơ còn có một hình tượng nữa, đó là “Em” – cái tôi trữ tình của nhà thơ. Hai nhân vật trữ tình này tuy hai mà là một. Có lúc chúng hoà nhập vào nhau để tạo nên sự âm vang cộng hưởng, có lúc lại phân đôi ra để soi chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng. Ở khổ 1 sóng được nhân cách hoá “Sóng tìm ra tận bể”. Sang khổ 2 : Sóng là hình ảnh ẩn dụ là hiện thân của khát vọng tình yêu bồi hồi trong ngực trẻ. Qua khổ 3, 4 : Sóng trở thành hiện thân của tình yêu Em và Anh. Sóng và Em đan xen nhau. Đến khổ 5 : Thêm hình ảnh cuả bờ để bổ sung cho hình tượng sóng, hình tượng hoá nỗi nhớ người yêu. Khổ này được cấu tạo đặc biệt gồm 6 câu . Đó cũng là lời tự bạch của em, của trái tim khát khao tình yêu. Nếu khổ 6 chỉ nói về em thì khổ 7 lại chỉ nói về song. Nghệ thuật kết cấu đan xen như vậy tạo nên sự so sánh ngầm, hình thức ẩn dụ : Sóng giống như Em, Em cũng như Sóng. Đến khổ cuối sự so sánh ngầm này trở thành ước muốn hoá thân : Em muốn hoá thân thành sóng. Như vậy hai hình tượng này đan cài quấn quít với nhau như hình với bóng, song song tồn tại từ đầu đến cuối bài thơ, soi sáng bổ sung cho nhau, nhằm diễn tả một cách mãnh liệt hơn, sâu sắc và thấm thía khát vọng tình yêu đang cuồn cuộn dâng trong trái tim nữ sĩ.

Hình tượng sóng quả là một tìm tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh. Nhưng “sóng”trước hết được gợi ra từ âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng của thể thơ 5 chữ cùng với những câu thơ thường không ngắt nhịp đã tạo nên nhịp điệu của những con sóng biển  liên tiếp triền miên vô hồi vô hạn, lúc dạt dào sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm chạy suốt bài thơ.Và âm hưởng chung của bài thơ không đơn giản chỉ là âm điệu của những con sóng biển. Màđó còn là âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập khao khát tình yêu vô hạn đang rung lên đồng điệu với sóng biển

Chúng hoà hợp với nhau đến mức ta không còn phân biệt được đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu tâm hồn thi sĩ. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng biển để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu không chịu yên định mà đầy biến động khát khao.

Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh đưa người đọc bước vào thế giới của sóng, nhịp điệu của biển cả :

Dữ dội và dịu êm

ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Bắt đầu là sóng nước. Đúng là như vậy. Không kể là ở sông hay bể, lúc cồn lên thì sóng dữ dội ồn ào, có thể làm lật thuyền, đắm tàu. Nhưng lúc trời yên biển lặng, thì nó lại dịu êm lặng lẽ. Nhưng dù “Dữ dội” hay “dịu êm”, “ồn ào” hay “lặng lẽ”  thì cũng là  Sóng

Dữ dội đấy nhưng cũng dịu êm đấy. Chợt ồn rồi chợt lặng. Đó là đặc tính của sóng. Nó vốn là một trạng thái động, một vật thể tự nhiên luôn chứa đựng những mâu thuẫn, những đối cực trong cùng một hiện tượng. Sóng phức tạp về hình thức, khó hiểu về bản chất.

Sóng luôn luôn biến đổi muôn hình muôn vẻ. Vì sao vậy ?  Đến sóng không hiểu nổi mình, chỉ biết rằng hiện tượng ấy cứ thường xuyên diễn ra . Ở khổ đầu, sóng hay chính là người con gái đang yêu. Sự phức tạp về hình thức khó hiểu về bản chất của sóng cũng chính là đặc tính đa dạng khó giải thích của tình yêu :Thoắt vui, thoắt buồn, thoắt cáu giận lại yêu thương. Sóng được nhân cách hoá, kết hợp với nhịp thơ biến hoá linh hoạt, Xuân Quỳnh đã diễn tả thật cụ thể, thật chính xác cái trạng thái khác thường vừa phong phú vừa phức tạp của trái tim đang cồn cào khát khao tình yêu

Sự phức tạp ấy đến sóng cũng không hiểu nổi mình. Và nó cần một lời giải đáp

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Hành trình từ sông ra bể của sóng là hành trình từ bỏ cái chật hẹp tù túng để đến với chân trời bao la rộng lớn, nơi vô cùng sâu rộng có trời nước bao la, có nồm nam êm nhẹ nhưng cũng có những bão tố dữ dằn. Ở những nơi như thế, may ra sóng mới có thể hiểu nổi mình.

Trái tim người con gái đang yêu cũng như sóng, không chấp nhận sự tầm thường nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao có thể đồng cảm, đồng điệu với mình. Nếu trước kia “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” (Hồ Xuân Hương) thì bây giờ “Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể”. Thật dứt khoát, thật rõ ràng. Hai câu thơ không chỉ thể hiện khát vọng tìm tòi đến tột độ mà ở đây ta còn thấy một nét mới trong quan niệm tình yêu : Yêu đến khát khao cháy bỏng nhưng không cam chịu, không nhẫn nhục.

Sóng là như thế, nhưng sóng có bao giờ mất đi cũng như tình yêu mãi mãi là khát vọng muôn đời của nhân loại :

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Con sóng ngày xưa thế nào, con sóng ngày sau vẫn thế : Trường tồn bất biến.

Sóng nước cũng như sóng tình. Bao nhiêu thế hệ đã qua, những cuộc hành trình đau khổ vui sướng, những niềm xót xa cùng hạnh phúc ngập tràn, tất cả đều vì khát vọng tình yêu. Con người từ thuở mông muội đến hiện đại thìtình yêu vẫn là điểm sáng vĩnh cửu  mà con người luôn vươn tới để sống, chiến đấu, lao động.  Nhà thơ nêu cái qui luật bất di bất dịch của tự nhiên để nhấn mạnh qui luật của tình yêu

Khát vọng tình yêu là khát vọng muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là ở tuổi trẻ. Nhưng khát vọng không hoàn toàn đồng nghĩa với ước vọng. Bởi ước vọng mới chỉ là ước và mong. Còn khát vọng thì đã là sự đa mê cháy bỏng mãnh liệt không giới hạn. Đó chính là nét đặc trưng của tình yêu. Nhưng nhắc đến tình yêu người ta thường nhắc đến tuổi trẻ:Bồi hồi trong ngực trẻ. Tình yêu và tuổi trẻ thường đi đôi với nhau, gắn liền với nhau. Như nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói : “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo, Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”. Ở lứa tuổi mùa xuân của đời người này, tình yêu mới phát triển mạnh mẽ nhất và mang đầy đủ ý nghĩa nhất. Tình yêu tràn đầy cơ sở thanh xuân, làm bồi hồi trái tim trong ngực trẻ khiến nó lúc nào cũng thổn thức nhớ mong khát vọng.

Tình yêu là như vậy, tự nhiên như hơi thở, cần thiết như cơm ăn, nước uống hàng ngày. Ấy thế mà tình yêu là gì mà có sức quyến rũ đến như vậy thì chưa ai giải thích được. Ngay đến Xuân Diệu – một nhà thơ tình nổi tiếng, một con người luôn khát khao giao cảm với đời, say đắm với tình yêu mà cũng bất lực :

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu

Làm sao có thể cảnh giác được tình yêu. Nó đến lúc nào ta đâu có biết và nó chiếm hồn ta lúc nào ta đâu có hay. Trước một vấn đề khó lí giải như vậy, em làm sao tránh khỏi sự băn khoăn trăn trở :

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Tự nơi nào sóng lên

Em nghĩ nghiã là em đang thao thức, đang lo lắng, đang đặt ra nhiều câu hỏi.  Điệp từ làm cho câu thơ đằm lại dịu dàng và càng làm rõ hơn sự suy nghĩ trong lòng em. Và như thế nhà thơ có một chút bối rối ưu tư muốn tìm hiểu về anh về em về biển lớn chứ không phải chỉ quen bồng bềnh, quen si mê, chỉ yêu và đơn thuần chỉ là yêu. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không đơn giản, yêu cháy bỏng nồng say nhưng không vì thế mà hời hợt.

Đến đây, nhân vật trữ tình có vẻ không thống nhất. Nếu ở đoạn thơ trên, em còn giấu mình trong lớp sóng ngoài kia thì đến đoạn này dường như nhà thơ không kìm chế nổi tình yêu đang dâng lên dạt dào trong ngực trẻ. Nhân vật trữ tình đã thoát ra khỏi lớp áo ẩn dụ để xưng em

Em nghĩ về anh em

Em nghĩ về biển lớn

Anh phải chăng là biển lớn, là cuộc đời mênh mông. Em là con sóng dạt dào là biểu tượng cho một tình yêu trỗi dậy. Xuân Quỳnh nghĩ về tình yêu, về anh nhưng vẫn nghĩ đến cuộc đời chung. Đó là điều đáng quí.Nhà thơ nắm bắt được mối liên hệ giữa hạnh phúc riêng và cuộc sống chung của mọi người.

Nếu sóng tìm ra tân bể để tự hiểu mình thì em cũng sẽ tìm đến tình yêu anh để hiểu sâu hơn về con người đích thực của em.

Trước không gian bao la của biển cả, làm sao em không trăn trở với những câu hỏi tự ngàn xưa

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Nơi nào là nơi bắt đầu của sóng ? Khó mà trả lời cho chính xác. Song vẫn có thể nói rằng : Sóng bắt đầu từ gió. Có gió thì mới có sóng, tất nhiên là như vậy. Nhưng “Gió bắt đầu từ đâu”. Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm đến nơi khởi nguồn, nơi bắt đầu của sự vật. Và câu trả lời không phải dễ dàng gì. Nhưng chúng ta nhận được một câu trả lời thật bất ngờ :

_ Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Một lần nữa Xuân Quỳnh lại trở về cái đề tài muôn thuở: tình yêu là gì ? Câu trả lời như một cái lắc đầu nhè nhẹ đáng yêu, như một lời nũng nịu ngây thơ hồn nhiên xen chút bất lực.

Nhưng chính cái hồn nhiên chân thực ấy làm cho tình yêu trở nên hấp dẫn và người chủ của nó hiện ra duyên dáng đáng yêu biết nhường nào.

Thế là ra tận bể mà sóng vẫn chưa hiểu nổi mình. Em đã hoà nhập vào biển lớn của tình yêu mà nào em đã hiểu em. Em yêu anh từ đâu ? Khi nào ? Từ cái gì ? ánh mắt, nụ cười, giọng nói, hay như ai đó yêu từ sắc ngựa tuyết in, cỏ pha màu áo, rêu phong dấu giày ( Truyện Kiều )

Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm về cội nguồn của nó. Nhưng em cũng không biết nữa. Mà biết để làm gì. Chỉ cần hiểu rằng: Ta vẫn yêu nhau là đủ. Cái thiêng liêng nhất, tuyệt diệu nhất trong tình yêu là sự giao cảm, hoà hợp sâu xa giữa hai tâm hồn, hai nửa cuộc đời tự nguyện gắn bó với nhau để tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, vĩnh viễn không trước cũng không sau.

Tình yêu ấy gắn liền với nỗi nhớ niềm thương sâu sắc cồn cào mãnh liệt :

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Trước biển xanh mênh mông muôn trùng sóng vỗ, Xuân Quỳnh phát hiện ra những con sóng cứ vỗ hoài, cả ngày cả đêm không biết mệt mỏi. Dù : Con sóng trên mặt nước (hay )  dưới lòng sâu thì cũng đều nhớ bờ,

Có bờ. Bờ là nơi đến của sóng, là đối tượng để sóng vuốt ve vỗ về. Bờ là cái đích của sóng, để sóng lúc nào cũng không quên, lúc nào cũng nhớ về. Sự tài tình của tác giả là đã tìm được một ẩn dụ rất khéo léo phù hợp với tâm trạng, diễn tả chính xác nỗi nhớ cồn cào của sóng hay cũng chính là của em.

Vắng anh em nhớ, đó là nỗi nhớ trên mặt. Gần anh mà em cũng vẫn nhớ, đó là nỗi nhớ dưới lòng sâu. Nỗi nhớ  trong em mênh mông trải rộng trong không gian ( trên – dưới ), trải dài theo thời gian ( ngày – đêm )

Nói cách khác “con sóng dưới lòng sâu, con sóng trên mặt nước”chính là những cung bậc khác nhau của nỗi lòng em nhớ anh.

Nỗi nhớ ấy da diết khắc khoải, thổn thức, khiến nhà thơ không tự làm chủ được mình, một lần nữa tự lột bỏ lớp áo ẩn dụ bên ngoài để trái tim tự thột lên lời :

_ Lòng em nhớ tới anh

Cả trong mơ còn thức

Câu thơ thật mới lạ ! Trong mơ mà lại còn thức. Đó chính là sự vô lí của cuộc đời nhưng lại là cái nghĩa lí của văn chương : Cái nhớ không hề chợp mắt. Nó không chịu ngủ, cứ thức hoài, nó len cả vào trong cơn mơ da diết cháy bỏng. Khổ thơ thêm hai câu chính là một cách kết câu đầy dụng ý nhằm nêu bật tình yêu mãnh liệt của em. Những cặp từ sóng đôi tương ứng bên nhau ( sóng – bờ, trên – dưới, ngày – đêm) tạo âm hưởng hài hoà, nhịp điệu đung đưa như sóng.

Càng đến cuối bài thơ, Xuân Quỳnh càng tỏ ra mình là một người sâu sắc thuỷ chung. Tình yêu của Xuân Quỳnh là tình yêu từ hai phía. Ở đây nhân vật trữ tình đã có đối tượng để hướng tới, chứ không vu vơ. Hơn nữa tình cảm, tâm hồn nhân vật trữ tình không bi quan chán nản mà tràn đầy hi vọng :

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương

Dẫu xuôi – ngược, phương Bắc – phương Nam. Đó là những độ dài cách trở, những gian nan thử thách đối với tình yêu. Nhưng phương hướng khoảng cách đặt ra xa bao nhiêu thì lòng người lại càng thể hiện rõ rệt sự thuỷ chung bấy nhiêu : Một phương. Bằng tình yêu, bằng tiếng nói của trái tim, Xuân Quỳnh đã phát hiện ra một phương thật lạ : phương anh, phương tình yêu.Và chính cái mới lạ, cái độc đáo ấy làm cho bài thơ trở nên dễ thương và đậm nữ tính nhưng cũng thật rắn rỏi, mạnh mẽ dứt khoát rõ ràng.

Khổ thơ đặt ra những thử thách, những cách trở nhưng cũng đưa ra những quyết tâm của con người. Tình yêu sẽ chiến thắng tất cả nếu là tình yêu chân thành thuỷ chung. Điệp khúc dẫu xuôi, dẫu ngược như một sự khẳng định, một lời chung thuỷ ghi lòng tạc dạ.

Dường như để khẳng định thêm cho lời nói của mình, nhà thơ đưa ra một loạt các dẫn chứng về thiên nhiên, tạo vật. Tất cả rồi sẽ chiến thắng nếu có sự kiên nhẫn, có sức mạnh :

Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở

Sóng muốn về với bờ phải vượt qua giông tố bão bùng. Em muốn hướng về anh phải vượt qua những cạm bẫy của cuộc đời. Tình yêu gắn liền với đời thường. Mà cuộc đời là dâu bể đa đoan. Tất cả những thử thách, những gian nan đang chờ em ở phía trước. Và đó là điều không thể thiếu  đối với tình yêu. Em cũng sẽ vượt qua tất cả bởi tình yêu anh đã cho em sức mạnh, tìm thấy hạnh phúc đích thực của đời mình. Cũng như cha ông xưa :

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu đèo cũng qua. Nhà thơ nêu ra những hiện tượng thiên nhiên để khẳng định  quyết tâm của mình

Quyết tâm ấy thiêng liêng như một lời nguyền vàng đá.

Tình yêu được tôi luyện như thế là tình yêu đẹp. Tình yêu cao cả nhưng nó lại là một thứ khó giữ và rất mong manh:

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Biển mênh mông đấy nhưng biển cũng có bờ. Cuộc đời tuy dài thế nhưng không phải là vô hạn bởi năm tháng vẫn di qua, thời gian vẫn trôi chảy. Một thoáng lo âu, mặc cảm khi nhà thơ ý thức được sự ngắn ngủi của cuộc đời. Như vậy, ngay cả khi yêu say đắm nhất, nhà thơ vẫn không hoàn toàn thoát li thực tại.

Trong cái nồng say hết mình vẫn thấp thoáng một dự cảm, lo âu không dứt : Liệu tình yêu có vượt qua được những qui luật tất yếu của cuộc đời không ?

Thật khó có thể tìm lời giải đáp. Vậy em chỉ còn cách sống hết mình với nỗi khát khao :

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

“Làm sao”, đó là niềm mong ước hoá thân. Em muốn tan ra thành những con sóng nhỏ của tình yêu để vỗ mãi ngàn năm trong biển lớn tình yêu.  Cái riêng và cái chung hoà hợp gắn bó vĩnh hằng.

Niềm mong ước ấy thật hồn hậu. Tình yêu của lứa đôi, hạnh phúc của lứa đôi chan hoà trong tình yêu rộng lớn của đồng loại, của đất nước, của nhân dân. Có thể nói lời thơ là lời nguyện cầu của một tâm hồn cao cả trong tình yêu. Sóng đã nói hộ nhà thơ nỗi khát khao được sống trọn vẹn, sống hết mình trong hạnh phúc tình yêu

Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể, vừa sinh động, những cung bậc  tâm hồn, tình cảm khác nhau trong tim người phụ nữ đang rạo rực yêu đương.

Sóng là một bài thơ tình vừa duyên dáng vừa mãnh liệt, sôi nổi hồn nhiên trong sáng, vừa ý nhị sâu xa. Bài thơ  Sóng Xuân Quỳnh rất tiêu biểu cho tư tưởng phong cách thơ Xuân Quỳnh giai đoạn đầu.

Tình yêu mãi là một điều gì đó dù cho có lí giải như thế nào đi nữa thì rồi cũng quay về với những câu hỏi chấm. Soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh cho ta hiểu thêm những định nghĩa về tình yêu, về những khát khao được sống trọn vẹn, sống hết mình trong hạnh phúc tình yêu. Sóng Xuân Quỳnh mang lại cho người đọc những cung bậc cảm xúc rất riêng và qua đó cho thấy được tình yêu trong mỗi chúng ta thật đa dạng và kì diệu. 

Tài liệu tham khảo soạn bài Ông đồ dành cho giáo viên và học sinh

Hướng dẫn soạn bài Ông đồ, Mỗi năm tết đến, nhìn người ta bày bán hoa đào, câu đối đỏ tôi lại nhớ đến hình ảnh Ông đồ trong thơ của Vũ Đình Liên. Ông đồ hiện lên với những câu từ gợi hình ảnh thật đẹp:

“Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua”

tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật tài liệu dưới đây để hướng dẫn cách soạn bài Ông đồ cho giáo viên và học sinh cùng tham khảo:

Đọc – hiểu văn bản

Câu 1.  Bốn khổ thơ đầu khắc họa hình ảnh ông đồ trong cùng mốc thời gian đó là mùa xuân, gắn liền với “giấy đỏ”, “mực tàu” nhưng đã ở hai cảnh ngộ khác nhau. “Mỗi năm hoa đào nở” – đó là dấu hiệu của mùa xuân về. Với “mực tàu giấy đỏ”, những câu đối Tết… ông đồ là hình ảnh quen thuộc, không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh mùa xuân, khi Nho học còn thịnh hành: “Mỗi năm … lại thấy”. Không gian xung quanh gợi vẻ ấm cúng thiêng liêng, đó là không gian của hoa đào nở tươi mới, của mực tàu sóng sánh, của giấy hồng điều giản dị… Vài ba nét phác họa đơn sơ, chân dung ông đồ già hiện lên với tất cả vẻ đẹp thanh tao cao khiết… Ông đồ như hòa vào, góp vào sắc màu rực rỡ, không khí rộn ràng của phố phường đón Tết. Mực tàu, giấy đỏ của ông như hòa vào màu thắm của hoa đào nở, sự có mặt của ông đã thu hút bao nhiêu người. Đành rằng, với một kẻ sĩ, bán chữ – thứ cử chỉ để răn dạy, ngâm vịnh và cho nhau, là cực chẳng đã. Song chữ ông còn được trọng, tài ông còn được khen, ông như một phần thiêng liêng của cuộc sống, một phần tôn vinh của mọi người. Bao nhiêu người tìm đến ông thuê viết chữ, hơn thế, để thưởng thức sự tài hoa, để ái mộ tâm lực của ông. Vậy cũng đủ an ủi ông rồi. Bởi đó là cái tình của người đời. Vả lại “Bày mực tàu giấy đỏ” là ông đã chấp nhận thành kẻ bán và chữ là hàng hóa. Đã là hàng hóa thì cần có người mua đông.
Nếu 2 khổ đầu khắc họa hình ảnh ông đồ trong thời kỳ đắc ý, thời kỳ mà Tết đến, mọi người đều mua câu đối đỏ hay vài chữ nho trên giấy hồng điều để dán lên vách, cột nhà trang hoàng nhà cửa ngày Tết và mong lời chúc Tết lành, thì hai khổ tiếp là hình ảnh ông đồ đã ở kì mạt vận. Vẫn là ông đồ ngày xưa, vẫn là giấy đỏ, là nghiên, là mực nhưng sao không gian đó buồn thảm và trống vắng vậy. Còn đâu giấy thắm mực đượm mà chỉ là:  Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu Giấy mực bẽ bàng trong tàn phai tủi sầu. Một loạt từ ngữ cùng trường nghĩa gợi vẻ đẹp tàn lụi buồn bã: buồn, không thắm, đọng, sầu. Nếu trước là “Bao nhiêu người thuê viết” thì nay “Người thuê viết nay đâu”. Ông đồ bị đẩy ra ngoài lề xã hội, rơi vào quên lãng. Bởi một thị hiếu thẩm mỹ đã chết một phong tục văn hóa vì bỏ quên, bởi một thời đại đã đổi thay, bởi người đời vô tình vô cảm. Khổ 4 vẽ ra một sự đối lập giữa cái tĩnh và cái động: Ông đồ – người qua đường Giấy – lá rơi, mua bay Tạo nên dáng vẻ bó gối bất động của ông đồ. Ông đồ ngồi đấy, như một pho tượng, bên trang giấy bị phủ lá vàng. Mắt buồn rầu, ngơ ngác nhìn qua màn mưa bụi phủ mờ dòng người qua đường… Đoạn thơ lời ít mà cảnh hiện ra như thước phim nổi đặc tả giàu sức gợi. Nơi đất trời là mưa bụi, lá vàng rơi, nơi xã hội là người qua đường, còn nơi ông đồ là bút sầu mực tủi, giấy không thắm. Tất thảy đều vô tình, lạnh lùng trước những giá trị coi là xưa cũ. Sự đối lập hai cảnh ngộ của ông đồ đã gợi lên bóng dáng tiêu điều của một nền học thuật, của một truyền thống văn hóa khi đối chạm với nền văn hóa hiện đại tư sản phương Tây. Chính sự tương phản giữa hai cảnh tượng đó gợi cho người đọc nỗi ngậm ngùi xót thương cho tình cảnh ông đồ: Còn duyên kẻ đón người đưa Hết duyên đi sớm về trưa một mình.

Câu 2. Cảm xúc của tác giả là sự kết hợp giữa lòng thương người và tình hoài cổ. Cảm xúc đó được biểu lộ kín đáo qua những hình ảnh miêu tả, có khi lại được tác giả phát biểu trực tiếp, nhưng chủ yếu được toát ra từ giọng điệu ngậm ngùi của bài thơ. Cụ thể, đó là những cảm xúc: – Ngưỡng mộ nét tài hoa của một thế hệ nhà Nho, trân trọng nét đẹp văn hóa một thời của dân tộc. – Cảm thương, xót xa trước sự tàn tạ của thân phận con người. – Luyến tiếc, nhớ nhung cảnh cũ người xưa nay đã vắng bóng. Đây là những trạng thái của cảm xúc đậm chất nhân văn, đánh động trong ta lòng xót thương số phận hẩm hiu của con người, nỗi buồn hoài cổ, nuối tiếc một nét đẹp của đời sống tinh thần dân tộc một thời, chạm đến một vấn đề có tính lịch sử, văn hóa: bi kịch của sự gặp gỡ Đông – Tây.

Câu 3. Cái hay của bài thơ nằm ở mặt nội dung và nghệ thuật, cũng như sự thống nhất hai mặt đó. a. Về mặt nội dung, thi phẩm đề cập đến vấn đề phổ quát, có tính vĩnh cửu: số phận con người trong sự đổi thay của cuộc đời. Vấn đề đó lại gắn chặt với niềm tiếc thương một nét đẹp văn hóa dân tộc khiến cho cảm xúc trong bài càng sâu sắc, mở rộng. Nội dung cảm xúc đó tìm đến một hình thức nghệ thuật tương ứng. b. Về mặt nghệ thuật: – Thể thơ ngũ ngôn được sử dụng, khai thác có hiệu quả nghệ thuật cao. Thể thơ này có khả năng biểu hiện phong phú, có thể tự sự (kể chuyện), miêu tả, triết lí… như nhiều thể thơ khác, nhưng dường như thích hợp nhất với việc diễn tả tâm tình sâu lắng. Giọng chủ âm của bài thơ là trầm lắng, ngậm ngùi, phù hợp với việc diễn tâ tâm tư, cảm xúc nhà thơ. – Kết cấu bài thơ giản dị mà chặt chẽ, có nghệ thuật. Đó là kết cấu đầu cuối tương ứng và có hai cảnh tượng tương phản sâu sắc cùng miêu tả ông đồ ngồi viết thuê bên lề phố ngày Tết, cách kết cấu ấy đã làm nổi bật chủ đề bài thơ, thể hiện tình cảm thất thế, tàn tạ đáng buồn của ông đồ một cách đầy ám ảnh. – Ngôn ngữ bài thơ trong sáng, bình dị, đồng thời hàm súc, dư ba. Hình ảnh thơ cũng vậy, không có gì tân kỳ, “độc đáo” nhưng đầy gợi cảm. Chẳng hạn những câu Giấy đỏ buồn không thắm – Mực đọng trong nghiên sầu, hoặc Lá vàng rơi trên giấy – Ngoài trời mưa bụi bay, có thể coi là toàn bích, là y tại ngôn ngoại. Chính vì chắt lọc, tinh luyện mà bài thơ tuy chỉ có một hình thức bình dị khiêm nhường, đã có một sức truyền cảm nghệ thuật và sức sống mạnh mẽ, lâu dài.

Câu 4. Đây là những câu thơ hay nhất trong bài, thể hiện được tập trung nhất cảnh ngộ cũng như tâm trạng của ông đồ. Thơ tả cảnh mà chính là để bộc lộ tâm trạng.  Cảnh ngộ của ông đồ giờ đây đã khác trước, bị rơi vào quên lãng. Vì vậy, ông đồ vẫn ngồi đấy nhưng bút chẳng cầm được, giấy chẳng được chạm. Vậy nên: Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu Nỗi buồn tủi lan sang cả những vật vô tri vô giác. Tờ giấy đỏ cứ phơi ra đấy mà chẳng được đụng đến trở thành bẽ bang, màu đỏ của nó trở nên vô duyên, không thắm lên được, nghiên mực không được bút lông chấm vào nên đọng lại bao sầu tủi của con người thấm vào trong những vật dụng ngày thường. Đến khổ thơ sau, trên giấy đỏ ấy lại lác đác lá vàng. Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay Lá vàng rơi vốn đã gợi sự tàn tạ, buồn bã, đây lại rơi trên tờ giấy dành viết câu đối của ông đồ và nằm tại đó vì giấy chưa được dùng đến. Ông đồ ế khách. Những chiếc lá bất động trên cái chỗ không phải của nó cho thấy cả một dáng vẻ bất động bó gối của ông đồ ngồi nhìn mưa bụi bay. Chỉ là mưa bụi bay rất nhẹ mà sao ảm đạm và lạnh lẽo vậy. Mưa của thiên nhiên hay trong chính cõi lòng ảo não của con người? Dường như đất trời cũng ảm đạm, buồn não ruột với cảnh ngộ ông đồ.

Cho đến tận bây giờ hình ảnh Ông đồ vẫn luôn in sâu trong tâm trí mỗi con người chúng ta, mỗi mùa tết đến nhìn cảnh người tấp nập buôn bán ta lại mường tưởng ra một hình ảnh ông đồ đang ngồi bên góc phố vẽ nên những câu đối đỏ trong hương mực tàu tươi mới. Với tài liệu mà tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật chúc các bạn soạn bài Ông đồ đầy đủ và học tập tốt.