Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi với bạn

Cuộc sống không thể nào hoàn mỹ và con người chúng ta cũng không thể nào hoàn hảo. Chúng ta sinh ra, lớn lên và khi trở về với cát bụi có lẽ vẫn chưa thể nào hoàn thiện được bản thân mình. Ai trong chúng ta cũng đều từng mắc lỗi với ba mẹ, anh chị hay đến cả những người bạn xung quanh chúng ta dù chỉ là một lỗi nhỏ.

Tham khảo  những bài văn mẫu hay dưới đây kể về một lần em có lỗi với bạn để xem có ai từng như vậy không nhé!

Bài làm 1:

Mấy năm trước, khi tôi vừa rời khỏi tiệm game cùng với lũ thằng Giang, thằng Trí, bọn tôi bước ra đường thì gặp thằng Quy-đứa bạn cùng trường với chúng tôi. Nó đang ngồi đếm tiền với một vẻ say mê, đôi mắt nó ánh lên niềm vui khó tả. Tôi chợt reo lên: “A! Chắc thằng này vừa chôm tiền của bố mẹ đây”. Rồi bọn tôi khích nhau xem đứa nào lấy được tiền của nó. Tất nhiên là tôi rồi, vì tôi “mạnh mẽ, dũng cảm” nhất mà. Thế là tôi chạy lại giật xấp tiền của nó rồi cả bọn cùng nhau chạy trốn và chia nhau. Rồi cho đến một hôm, tôi gặp lại nó, từ đằng xa thôi. Tôi không dám tin vào mắt mình, thằng Quy đang đứng trước cửa hàng đồ chơi, nó chỉ dám đứng nhìn qua cửa kính, ngập ngừng, trên lưng còn cõng thằng anh bị bệnh tật ngớ ngẩn, lưng nó oằn xuống, dường như không chịu nổi sức nặng quá lớn. Tôi bước nhẹ nhàng lại gần nấp vào bức tường bên cạnh và lắng nghe: “Tiếc quá anh nhỉ? Giá như còn số tiền đó, em sẽ mua cho anh chiếc xe tăng đằng kia, nhưng không sao, chỉ một tuần rửa chén thuê, em sẽ có tiền mua cho anh thôi mà”. Thằng anh cười hì hì, một cách hồn nhiên rồi nhắc lại “xe tăng, xe tăng”. Còn tôi đứng nép vào góc tường, tự dưng tôi thấy mình có tội.

Tôi bỏ chạy về nhà mà rơm rớm nước mắt. Lúc này, sao tôi cảm thấy xấu hổ quá! Chao ôi! Giá mà tôi đừng lấy tiền của nó thì bây giờ nó có thể… hic… tôi muốn gặp mặt thằng Quy quá, tôi muốn nhìn thấy nó chăm sóc người anh bệnh tật, chia sẽ với nó những nặng nề, thiếu thốn trong cuộc sống. Và tôi sẽ cố gắng dành dụm một số tiền trả cho nó để bù đắp phần nào lỗi lầm mà tôi đã gây ra.

Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi

Bài làm 2:

Ngày hôm ấy, là sinh nhật bạn. Bữa tiệc ấy có lẽ sẽ rất vui nếu như không có chuyện đó xảy ra. Trước khi buổi tiệc bắt đầu, tôi là người đến sớm nhất để giúp bạn trang hoàng tiệc. Sau khi trang trí xong, tôi lên phòng Trân nghỉ xả hơi và bật nhạc nghe. Khi nằm lên giường, cảm thấy có gì cồm cộm dưới gối, tôi liền lấy ra xem thì ra đó là nhật kí của Trân tranh thủ lúc Trân còn đang ở dưới lầu tôi đọc lướt qua cuốn sổ. Tôi giở ra từng trang thích thú đọc những dòng chữ hiện ra trước mắt. Quá chăm chú đọc nên tôi không biết rằng Trân đã đứng đó từ lúc nào, gói bánh trên tay bạn rơi xuống. Nụ cười trên môi vụt tắt, đôi môi bạn mím chặt lại, mắt mở to. Khuôn mặt hồng hào của bạn giờ đây trắng bệch. Trân hét thất thanh:

-Cậu thật quá đáng!

Tiếng hét của Trân làm tôi chợt tỉnh, tôi vô cùng sợ hãi và bất ngờ, tay tôi run lên, quyển nhật kí rơi xuống đất. Mọi thứ diễn ra quá nhanh làm tôi không thể tưởng tượng được. Đôi mắt Trân nhìn tôi trở nên đầy lạnh lẽo và xa cách. Tôi im lặng không nói lời nào khi thấy trên khuôn mặt bạn là hai hàng nước mắt.

-Thôi! Cậu xuống lầu nhập tiệc đi! Vừa nói Trân vừa nhặt cuốn nhật kí lên và chạy vội vào phòng, tôi sững sờ chưa kịp nói lời xin lỗi. Bữa tiệc hôm ấy đã diễn ra nhưng không ai thấy sự xa cách của tôi và Trân.

Về nhà tôi suy nghĩ về hành động của mình, tôi tự trách mình tại sao mày lại tò mò đến vậy ? Mày có biết là đã đánh mất đi niềm tin của người bạn thân iu không” Trong tôi luôn muốn nói lời xin lỗi nhưng sao khó quá!

Cũng chính sự ngang bướng của tôi đã làm mất đi tình bạn của mình Tôi giận mình quá lòng ray rứt vì đã xúc phạm bạn. Tôi thật sự không muốn mất bạn. Trân ơi mình ân hận quá, hãy tha lỗi cho mình. Ngày mai đến lớp tôi sẽ mua cho bạn 1 gói ô mai và nói lời xin lỗi với bạn, Tôi mong bạn tha thứ cho mình và thật sự tôi đã làm được tôi đã lấy hết can đảm để nói lời xin lỗi với Trân. Ngoài sự mong đợi Trân mỉm cười và chấp nhận tha thứ cho tôi. Bạn nói:

-Trong cuộc sống không ai không mắc lỗi lầm nhưng người biết sữa chữa và nói lời xin lỗi là người tốt và cậu đã làm được đấy thôi! Vì thế mình sẽ tha thứ cho cậu.

Tính hiếu kì đôi lúc làm con người khám phá ra những điều mới lạ nhưng cũng có lúc làm cho con người trở nên xấu xa hơn khi nó biến thành sự tò mò tọc mạch. Mỗi con người đều có 1 góc riêng tư không thể bày tỏ cùng ai và điều đó cần được tôn trọng. Vì vậy lén xem trộm nhật kí của bạn là một hành vi không đúng. Tôi đã xúc phạm bạn và nếu như không được tha thứ thì có lẽ tôi sẽ đánh mất tình bạn thiêng liêng này và hạ thấp con người của mình. Xin mọi người hãy tôn trọng những riêng tư của nhau, đừng bao giờ tò mò như tôi

 

Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi

Bài làm 3: 

Năm học lớp 6, lớp 7, tôi thi học sinh giỏi môn Toán toàn huyện, đều giành đuợc giải khuyến khích. Nhiều bạn chế giễu tôi là đạt được “giải khúc khích!”.Lên lớp 8, bố mẹ tôi chuyển nhà lên thị xã. Hai chị em tôi đều chuyển đến trường mới: trường Trung học cơ sở Phạm Ngũ Lão. So với các bạn học trong lớp thì tôi chỉ vào loại học khá môn toán, còn môn Ngữ văn, môn Tiếng Anh, tôi gồng mình lên mà chỉ được điểm trung bình. Tôi sinh ra tự ti, thậm chí có lúc tỏ ra hèn nhát. Giờ học Tiếng Việt, cô giáo lên giảng bài rất hay, nhưng tôi không dám giơ tay phát biểu. Sinh hoạt tổ học tập, sinh hoạt lớp, tôi ngồi im như thóc trong bồ. Các bài kiểm tra toán, tôi chỉ được 7, 8 điểm; cô Thanh vẫn phê là “trình bày rối” chưa khoa học. Thậm chí, có lần tôi còn làm trò cười cho cả lớp. Tôi gọi cây đàn ghi ta (Lục huyền cầm) là cây đàn “cai – nha” khi làm bài văn thuyết minh. Giờ ra chơi, tôi ít ra sân đá cầu, nhảy dây cùng các bạn, v.v…

Tôi trở nên vụng về khi bước vào phòng chức năng học vẽ, học đàn, học hát. Buổi học hôm ấy, khi các bạn kéo ra sân chơi, tôi ở lại một mình trong phòng chức năng. Không biết tôi hí hoáy thế nào đó mà làm đứt dây đàn vĩ cầm. Sự cố xảy ra, tôi vô cùng lo sợ. Tôi dặn mình: “Chẳng ai biết mình gây ra. Cứ im lặng và tỉnh bơ…”. Buổi tập hát tiếp tục. Cái Diệu kêu lên: ”Đàn đứt dây rồi!” Cô Liên và cô Chi hỏi: “ Ai làm đứt dây đàn?” Nhưng tất cả đều nhìn nhau im lặng! Cô Liên và cô Chi đều tỏ ý không vui. Sau sự cố ấy, thầy chủ nhiệm lớp 8A, hạ mức hạnh kiểm của cái Diệu (nhóm trưởng) cái Hoàn (nhóm phó) trong đội ca vũ xuống một bậc, từ loại tốt xuống loại khá. Năm học sắp kết thúc rồi. Diệu và Hoàn đều học giỏi, đàn ngọt, hát hay, được các thầy cô giáo và bạn học quý mến.

Chuyện ấy làm tôi day dứt trong lòng mãi. Nhiều đêm tôi trằn trọc và tự trách mình sao hèn nhát thế? Tại sao không dũng cảm tự nhận lỗi để Diệu và Hoàn mắc oan? Nhưng có lúc tôi lại nghĩ: “Mọi chuyện rồi sẽ trôi qua. Nhắc lại làm chi cho mệt…”

Lòng tự trọng đã nâng đỡ tâm hồn tôi. Tôi viết một bức thư dài gửi thầy chủ nhiệm nói rõ sự việc, xin nhận kỉ luật: đề nghị thầy không hạ mức hạnh kiểm của hai bạn Diệu, Hoàn…

Thầy Cảnh gặp riêng tôi. Thầy nói về lòng tự trọng, sự hèn nhát và lòng dũng cảm. Thầy an ủi, động viên tôi. Lúc đầu, tôi cứ ngỡ các bạn sẽ khinh ghét tôi, xa lánh tôi. Nhưng thật không ngờ, các bạn lại yêu mến, quý trọng tôi hơn trước. Tôi thấy tâm hồn mình thanh thản. Cuối năm học lớp 8, thi kiểm tra, tôi được 5 điểm 10, xếp loại giỏi văn hoá, loại tốt hạnh kiểm.

Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi với bạn

 

Các bạn có thể tham khảo thêm rất nhiều những bài văn mẫu để luyện thi tại http://tiepsucmuathi.edu.vn. Cuộc sống hãy cứ thế giản đơn, rút ra kinh nghiệm cho mỗi lần mắc sai lầm mới là chính bạn. Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn với chúng tôi  kể về một lần em có lỗi với bạn để cùng rút ra bài học nhé!

 

 

Cảm nhận hay nhất về bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Hãy cảm nhận bài thơ đất nước của Nguyễn Khoa Điềm một trong nhũng tác phẩm văn học nổi tiếng nhất. Đề tài đất nước là một trong những đề tài muôn thuở của thơ văn Việt Nam nói chung và trong các lĩnh vực khác nói riêng. Chúng ta đã bắt gặp hình ảnh đất nước rất nhiều không chỉ trong văn học, thơ ca mà cả trong những lời ca, câu hát của bà và mẹ. Hình ảnh đất nước chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp đất nước đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất vẫn là qua bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua bao nhiêu sóng gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm.

Tác giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước là tên gọi thiêng liêng, bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn của cảm xúc chính tác giả.

Bài thơ được mở đầu bằng những vần thơ nhẹ nhàng, tinh tế đưa người đọc trở về với những ngày đầu mới khai sinh:

Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

Đất nước có trong những cái ngày xửa

Ngày xưa mẹ thường hay kể

Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc.

Đất nước hiện lên qua những câu thơ thật bình dị, gần gũi, nó không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một khái niệm hiện hữu hằng ngày trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Tác giả sử dụng từ “khi” để đánh dấu sự ra đời của khái niệm “đất nước”. Từ khi mỗi chúng ta sinh ra thì đất nước đã có rồi. Sau câu thơ ấy, tác giả bắt đầu lí giải nguồn gốc của đất nước mà mỗi người đều mong muốn hiểu thấu được. Giọng thơ dịu nhẹ, ngọt ngào dẫn dụ người đọc về với những “ngày xửa ngày xưa”. Đó như một nốt nhạc của quá khứ trở về trong những suy nghĩ của con người. Từ: “ngày xửa, ngày xưa” đánh dấu những điều gì đó xa xưa, rất xưa, không xác định thời gian cụ thể, chỉ biết rằng nó đã có từ lâu đời. Đất nước đồng thời hình thành từ khi dân mình biết đánh giặc. Là những con người đó làm nên đất nước…

Đất nước còn gắn liền với cuộc sống bình dị, thân quen của người nông dân Việt Nam.

Tác giả không chỉ dừng lại ở đó, đất nước còn được lý giải chính là thành quả của công cuộc lao động để xây dựng và phát triển:

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng

Đất nước có từ ngày đó

Một một dụng cụ được tạo ra để phục vụ cho đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của con người như “kèo, cột” đều gắn bó với lịch sử ra đời của đất nước. Rất bình dị, rất chân thực nhưng nó như là một sự giải thích đúng đắn.

Nguyễn Khoa Điềm như dẫn người đọc đi vào những cung bậc tình cảm khác của đất nước, đó là chuyện tình yêu lứa đôi e ấp nhưng tha thiết và mặn nồng:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất nước không chỉ hiển hiện trong không gian văn hóa, phong tục tập quán của con người mà còn hiện lên trong những tình yêu lứa đôi mặn nồng, tha thiết nhất. Tác giả đã cắt nghĩa “đất nước” thành hai từ “đất” và “nước” để lí giải cụ thể ý nghĩa của từng từ. Đây có thể coi là sự tinh tế và đầy thi vị của Nguyễn Khoa Điềm. Nhưng dù được tách ra thì đất nước vẫn là một khái niệm trọn vẹn và đầy ý nghĩa nhất.

Đất nước còn được mở ra theo chiều dài của lịch sử và chiều dài của không gian văn hóa, của những con người vẫn còn trằn trọc tha thiết đi tìm hình bóng quê hương. Đất nước được hình thành từ những câu chuyện xa xưa, từ những điển tích điển cố mà người đời sau vẫn luôn nhắc nhở nhau. Hình ảnh “con chim phượng hoàng”, “núi bà đen, bà điểm”, “lạc long quân âu cơ” chính là minh chứng cho sự phát triển nhiều thăng trầm nhưng đáng tự hào của chúng ta. Nhớ về cội nguồn, nhớ về những ngày xưa vất vả chính là đạo lí, truyền thống uống nước nhớ nguồn mãnh liệt của nhân dân ta.

Đất nước trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thống:

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Trong sự hình thành và phát triển, bề dày văn hóa lịch sử ngày càng được khẳng định. Những con người đã ngã xuống vì đất nước, những con người thế hệ mai sau cần phải cố gắng gìn giữ và phát huy được truyền thống tốt đẹp đó.

Nguyễn Khoa Điềm đã có cái nhìn đa chiều về đất nước từ khía cạnh đời thường, khía cạnh lịch sử, khía cạnh không gian và thời gian mang đến cho người đọc nhận thức đúng đắn nhất về đất nước mà chúng ta đang sống và cống hiến.

Hơn hết tác giả còn khẳng định

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần đất nước

Có thể nói đất nước đã đi vào và in hằn vào máu thịt của mỗi người, nhắc nhở trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng ta về công cuộc xây dựng và bảo vệ sự vững mạnh của đất nước này.

Đất nước còn được Nguyễn Khoa Điềm tích lũy thành một khái niệm sâu sắc:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Một quan niệm sâu sắc, giàu giá trị nhân sinh quan khiến cho người đọc không thể phủ nhận sự tồn tại của đất nước là một thực tế.

Đất nước còn biểu tượng cho long thành kính, sự biết ơn đến những người đã ngã xuống vì hòa bình, tự do cho hôm nay:

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra đất nước

Lại them một sự lí giải đúng đắn cho định nghĩa “đất nước”, những con người đó họ dù chết nhưng trái tim họ vẫn còn sống mãi trong cuộc sống của những người ở lại.

Nhưng ở hai câu thơ cuối có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra định nghĩa đúng đắn và sâu sắc nhất về đất nước:

Đất nước này là đất nước của nhân dân

Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.

Thật vậy, nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Bởi vậy đất nước này phải thuộc về nhân dân. Tư tưởng của tác giả rất tiến bộ, rất đời thường và rất sâu sắc.

Như vậy Nguyễn Khoa Điềm bằng những lý lẽ và dẫn chứng đầy thuyết phục đã khẳng định được vị trí, vai trò vô cùng to lớn của đất nước trong cuộc sống của mỗi con người.

Gấp lại những trang thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm chắc hẳn ai trong chúng ta cũng có những bồi hồi, xao xuyến nơi sâu thẳm đáy lòng bởi những vần thơ sâu lắng đi vào lòng người nghe và người đọc. 

Gợi ý soạn bài Chiếc thuyền ngoài xa cho giáo viên và học sinh

Chiếc thuyền ngoài xa là tên một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đời tư-thế sự của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975. Tạp chí Văn nghệ Quân đội (số 1 tháng 10 năm 2007) cũng chọn và coi đây là tác phẩm hay nhất của nhà văn. Tác phẩm này đã được đưa vào giảng dạy ở chương trình chính thức Sách giáo khoa môn ngữ văn lớp 12 bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 qua một đoạn trích phần giữa truyện.

Dưới đây chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn tài liệu và hướng dẫn các bạn soạn bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu để các bạn nắm được kiến thức của môn học và cảm nhận về bài văn một cách sâu sắc hơn.

 I.         Kiến thức cơ bản

A.    vài nét về tác giả :

– Nguyễn Minh Châu(1930-1989) – Quê Nghệ An.

– Là nhà văn quân đội, sáng tác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

– Tác phẩm của ông :

·  Trong kháng chiến chống Mỹ ông tập trung viết và ngợi ca cuộc sống hào hùng của các thế hệ con người Việt Nam dũng cảm, chấp nhận mọi hi sinh vì sự nghiệp chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.

·  Từ những năm 80 của thế kỉ XX, sáng tác của Nguyễn Minh Châu khẳng định ông luôn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức, thế sự.

·  Trong thời kì nào Nguyễn Minh Châu đều sáng tác theo phương châm” Đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn mỗi con người” và ông luôn có cái nhìn thấu hiểu, trĩu nặng tình thương và nỗi lo âu đối với con người

·  Nguyễn Minh Châu có lối văn giản dị mà sâu sắc, thấm thía, nhiều dư vị, nhiều trải nghiệm, chiêm nghiệm.

–         Tác phẩm tiêu biểu:Cửa sông( tiểu thuyêt,1966),Dấu chân người lính (tiểu thuyết,1972), Miền cháy (tiểu thuyết,1977), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành( truyện ngắn, 1983),Bến quê ( truyện ngắn, 1985)…

–          Nhận định:

·         Nhà văn Nguyễn Khải: “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này”.

·         Nhà phê bình Nikolai Nikulin: “Niềm tin vào tính bất khả chiến thắng của cái đẹp tinh thần, cái thiện đã được khúc xạ ở chỗ, anh (Nguyễn Minh Châu) đã tắm rửa sạch sẽ các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng”.

      B. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác – Xuất xứ và ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm

 a.  Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ

–         Từ những năm 80 của thế kỉ XX, từ cảm hứng sử thi lãng mạn của những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, cảm hứng sáng tác của nhà văn dần dần chuyển sang tính chất triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá ý nghĩa bản chất con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số những tác phẩm ra đời trong mạch cảm xúc này của tác giả.

– Chiếc thuyền ngoài xa được in lần đầu trong tập Bến quê, sau được tác giả lấy làm tên chung cho cả tập truyện ngắn từ truyện Bức tranh trở đi, in năm 1987.

           b.Ý nghĩa tư tưởng

– Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai.

– Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra đời sống con người cả ở những sự kiện bề nổi nhưng khuất lấp trong bề sâu của nó, nhận ra những quy luật tất yếu lẫn những ngẫu nhiên, may rủi đầy bất trắc và khó lường trước của đời sống.

– Ông luôn day dứt về việc con người phải chịu đựng, phải chấp nhận những nghịch lí mà lẽ ra là không đáng có trong một cuộc sống tốt hơn.
2. Tóm tắt

– Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ. Anh được trưởng phòng phân công xuống vùng biển để chụp một bức ảnh cảnh biển buổi sáng. Anh quan sát và chụp được một cảnh “đắt” trời cho. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và rất đẹp. Phùng rất xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình. Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.

– Ngay lúc ấy Phùng thấy mũi thuyền tiến thẳng vào bờ. Một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền. Người đàn bà cao lớn, đường nét thô kệch, mệt mỏi sau một đêm kéo lưới. Người đàn ông có tấm lưng rộng và cong như chiếc thuyền, hai con mắt dữ tợn. Hắn hùng hổ rút chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà. Người đàn bà cam chịu, nín lặng. Lúc  ấy, thằng Phác – con của hai vợ chồng hàng chài- Lo đến giằng chiếc thắt lưng trên tay bố và đánh mạnh vào ngực bố nó. Người đàn ông thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát.

– Hôm sau, Phùng chứng kiến cảnh tượng tương tự. Chỉ khác là chị thằng Phác đã giằng được con dao mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Không thể chịu được Phùng đã xông vào can ngăn người đàn ông. Lão đánh trả, Phùng bị thương phải đưa vào bệnh xá của tòa án huyện.

–  Tại đây, anh được biết cảnh ngộ của người đàn bà hàng chài qua lời tâm sự của chị. Anh ngạc nhiên và thực sự cảm thông. Anh ngạc nhiên vì người đàn bà không nghe theo cách giải quyết ban đầu của Đẩu( chánh án) là khuyên người đàn bà li dị. Về sau  khi nghe người đàn bà tâm sự anh và Đẩu mới “vỡ lẽ”, cả hai hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của gia đình hàng chài. Cuối truyện, Đẩu đi gặp người đàn ông đánh vợ còn Phùng xuống chỗ đóng thuyền gặp thằng Phác. Sau đó Phùng trở về phòng văn hóa, suy nghĩ về bức ảnh chụp được in trong bộ lịch.

3.     Tình huống truyện

a.     Tóm tắt tình huống truyện

–         Nghệ sĩ Phùng đến một vùng ven biển miền Trung để chụp một tấm ảnh cho bộ lịch năm sau. Tại đây anh chụp được một tấm ảnh cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong làn sương sớm đẹp như tranh vẽ.

–         Khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng thấy hai vợ chồng hàng chài bước khỏi thuyền và anh chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ, đứa con ngăn bố. Những ngày sau, cảnh đó lại tiếp diễn. Phùng không ngờ đằng sau cảnh đẹp tuyệt vời của thiên nhiên là bao ngang trái, nghịch lí của đời thường.

b.     Các nhân vật đối với tình huống truyệnà Tình huống truyện làm nổi bật số phận, tính cách, cách nhìn nhận vấn đề trong cuộc sống của các nhân vật.

–         Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa vẻ đẹp chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái trong gia đình hàng chài. Gánh nặng mưu sinh đè nặng trên vai cặp vợ chồng. Người chồng trở thành kẻ vũ phu. Người vợ vì thương con nên nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi của chồng mà không biết mình đã làm tổn thương tâm hồn đứa con. Cậu bé thương mẹ, bênh vực mẹ, thành ra căm ghét cha mình.

–         Chánh án Đẩu tốt bụng nhưng đơn giản trong cách giải quyết sự việc. Anh khuyên người đàn bà li dị nhưng không hiểu vì sao người đàn từ chối lời khuyên ấy.

c.      Ý nghĩa của tình huống truyện

–         Ý nghĩa khám phá, phát hiện của tình huống truyện

·  Cái nhìn và cách cảm nhận của nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu là sự khám phá, phát hiện sâu sắc về đời sống và con người.

·  Sau khi người đàn bà tâm sự, Đẩu hiểu nguyên nhân vì sao người đàn bà không bỏ chồng. Anh đã “vỡ lẽ” ra nhiều điều trong cách nhìn nhận cuộc sống.

·  Phùng như thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại ở rất gần. Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện giúp anh hiểu rõ hơn cái có lí trong cái tưởng như nghịch lí ở gia đình thuyền chài. Anh hiểu thêm tính cách Đẩu và hiểu thêm chính mình.

–         Tình huống truyện khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật và đời sống, thể hiện cái nhìn đa diện nhiều chiều về đời sống, gợi mở những vấn đề mới cho sáng tạo nghệ thuật.

C.   Nội dung

1.     Phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng – Bức tranh thiên nhiên vùng biển

–         Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, Phùng đến một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh. Tại đây anh đã chụp được một bức ảnh thiên nhiên đẹp như mơ. Anh phát hiện ra vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời cầm máy anh chỉ có diễm phúc bắt gặp một lần “ trước mặt tôi……  hài hòa và đẹp”

–         Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Anh cảm nhận trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa trời biển mờ sương vẻ đẹp của cái chân- thiện- mỹ. Phùng thấy tâm mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa, lãng mạn của cuộc đời” tôi tưởng chính mình….trong ngần của tâm hồn”.Anh còn cảm nhận” bản thân cái đẹp chính là hạnh phúc”.

2.     Phát hiện thứ hai của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng- Bi kịch của gia đình làng chài

–         Một phát hiện bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.

–         Phùng bắt gặp, chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ kia bước ra một người đàn bà thô kệch, xấu xí, mệt mỏi, cam chịu; một người đàn ông thô kệc, dữ dằn độc ác, đánh vợ một cách vũ phu, tàn nhẫn; một đứa bé vì thương mẹ đã xông vào đánh cha với lòng căm hận.

–         Lần thứ hai nhìn thấy cảnh tượng ấy lặp lại, Phùng đã thể hiện bản chất người lính là không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác- Anh xông vào can ngăn.

–         Phùng cay đắng nhận ra : Đằng sau vẻ đẹp toàn bích của thiên nhiên còn tồn tại biết bao nghịch lí, ngang trái, xấu xa- Nghịch lí xuất hiện ở những nơi khó ngờ nhất.

3.     Các nhân vật

a.     Người đàn bà hàng chài

–         Ngoại hìnhà hiện thân của sự nghèo khổ, vất vả và cam chịu

–         Khi bị chồng đánh, chị nhẫn nhục chịu đựng

–         Khi thấy thằng Phác chị vái lạy con và khóc

–         Tại tòa án huyện

·        Lúc đầuà sợ sệt, lúng túng, đáng thương, tội nghiệp ( cử chỉ, điệu bộ, cách xưng hô)

·        Sau khi chánh án Đẩu khuyên chị li hôn:

+  Không chịu li hôn

+ Thái độ thay đổi, trở nên chủ động, mạnh dạn đề xuất ý kiến của mìnhà Người đàn bà hiểu được thiện ý của Đẩu và Phùng nhưng cũng cảm thông cho sự nông nổi, ngây thơ của họ- Họ mới nhìn cuộc sống ở hiện tượng chứ chưa thấy bản chất bên trong.

ð    Hình ảnh một người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh nhưng lại là người hiểu lẽ đời và ngời sáng vẻ đẹp của tình mẫu tử, lòng vị tha, đức bao dung,sự can đảm – Đó là hạt ngọc ẩn giấu trong cái lấm láp đời thường mà Nguyễn Minh Châu đã phát hiện ra bằng cái nhìn đa diện, nhiều chiều và tình yêu thương, sự trân trọng của ông đối với con người.

b.     Người đàn ông

–         Ngoại hình Cuộc sống đói nghèo, lam lũ hằn in lên dáng vẻ khắc khổ của người đàn ông

–         Mỗi khi đánh vợ lại “ rên rỉ đau đớn” à Đánh vợ như một sự giải tỏa nỗi ẩn ức, bế tắc trong lòng. Gánh nặng áo cơm đã làm cho người đàn ông trở thành kẻ vũ phu, thô bạo.

c.      Thằng bé Phác

–         Yêu thương mẹ

–         Căm thù cha

ð    Nạn nhân của nạn bạo hành trong gia đình

d.     Chánh án Đẩu

–         Là vị Bao Công có lòng tốt nhưng xa rời thực tế. Giải quyết vấn đề bằng lí thuyết mà chưa gắn với thực tế đời sống.

–         Sau buổi nói chuyện với người đàn bà hàng chài, Đẩu đã “vỡ lẽ” à Anh bắt đầu nhận ra rằng: Muốn con người thoát khỏi cảnh tăm tối, đau khổ cần có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí và lí thuyết suông.

e.      Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng- nhân vật TÔI

–         Là nhân vật tư tưởng, một người nghệ sĩ tài hoa, tâm hồn nhạy cảm,dũng cảm với nghệ thuật đích thuật.

–         Xuất thân một người lính nên luôn có ý thức bảo vệ cái tốt, cái đẹp, cái công bằng và đấu tranh với cái xấu, cái ác, cái bất công.

–         Đóng vai trò của người kể chuyệnà Qua câu chuyện về gia đình hàng chài nhân vật TÔI:

·        Nhận thức lại về chân giá trị của con người và đời sống à Phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều mới có thể khám phá bản chất của cuộc đời, không thể có cái nhìn đơn giản, hời hợt đối với cuộc sống.

·        Nghệ thuật và đời sống có mối quan hệ mật thiết và bản thân cái đẹp chính là đạo đức.

4.     Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

–         Là biểu tượng của bức tranh thiên nhiên về biển và cũng là biểu tượng về cuộc sống sinh hoạt của người dân làng chài.

–         Là hình ảnh gợi cảm, gợi liên tưởng về cuộc sống bấp bênh của những thân phận, những cuộc đời trôi nổi trên sông nước.

–         Là biểu tượng cho mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.

D.   Nghệ thuật

1.     Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện nghịch lí làm nổi bật tình huống  nhận thức

2.     Giọng điệu chiêm nghiệm, suy tư ,phù hợp với nhận thúc

3.     Ngôn ngữ đằm thắm, giản dị.

E.   Chủ đề: Nhà văn khẳng định cách nhìn nhận đúng đắn về con người và cuộc sống là cách nhìn đa diện, nhiều chiều để phát hiện ra bản chất thực sự sau bề ngoài của hiện tượng. Qua đó tác giả bày tỏ cái nhìn thấu hiểu và tấm lòng trĩu nặng tình thường đối với con người cùng những suy tư, trăn trở về cuộc sống .

      II.         Luyện tập

1.     Phân tích tình huống truyện và ý nghĩa nhận thức qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

2.     Trình bày suy nghĩ về hình ảnh người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

·        Chia sẻ với người đàn bà về cảnh đời bất hạnh, khổ đau cả về thể xác lẫn tinh thần.

·        Trân trọng tình mẫu tử và những niềm vui, hạnh phúc mà bà chắt lọc từ trong đau khổ triền miên.

·        Cảm thông cho cảnh đời của người đàn bà hoặc không đồng tình với thái độ cam chịu của nhân vật này trước cảnh bạo lực trong gia đình

·        Hình ảnh người đàn bà thể hiện cái nhìn thấu hiểu và tấm lòng trĩu nặng tình thương, nỗi lo âu cho con người của tác giả. Đồng thời cũng cho thấy tác giả đã có cái nhìn không sơ lược và đơn giản về cuộc sống và con người.

3.     Tính chất luận đề của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

4.      Trình bày cảm nhận về hình ảnh người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa( Nguyễn Minh Châu)

v  HS có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lí và nổi bật những nội dung sau:

·        Người đàn bà bất hạnh, đau khổ, cam chịu ( ngoại hình, bị chồng đánh đập tàn nhẫn…)

·        Người đàn bà thất học, quê mùa nhưng thấu đáo lẽ đời ( cảnh ở tòa án huyện)

·        Người đàn bà ngời sáng vẻ đẹp của tình mẫu tử,đức hi sinh,lòng vị tha (đối với chồng, con)

v  Cảm nhận:

·        Cảm thông, chia sẻ với nỗi bất hạnh, đau khổ của người đàn bà.

·        Trân trọng những phẩm chất của một người mẹ, người vợ.

·        Đồng tình (hay không đồng tình)với sự cam chịu, nhẫn nhục của người đàn bà.

·        Qua hình ảnh người đàn bà thấy được:

o       Cái nhìn thấu hiểu và tấm lòng trĩu nặng tình thương, nỗi lo âu cho con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

o       Tác giả có cái nhìn đa diện nhiều chiều về cuộc sống và con người.

o       Thể hiện phương châm sáng tác của tác giả” Đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn mỗi con người”

5.     Trong đoạn cuối truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?

–         Bức ảnh mà nghệ sĩ Phùng chụp được là một bức ảnh đen trắng, ghi lại hình ảnh chiếc thuyền đang từ từ tiến vào bờ trong màn sương sớm tại một làng chài miền trung. Bức ảnh hoàn toàn không có sự xuất hiện của con người.

–         Tuy nhiên, khi “ngắm kĩ” bức ảnh, anh lại thấy hiện lên “cái màu hồng của ánh sương mai”. Và nếu “nhìn lâu   hơn”, nghệ sĩ nhiếp ảnh nhận ra hình ảnh “người đàn bà đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kêch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

–         Ý nghĩa của các hình ảnh đó: Những hình ảnh ấy có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, thể hiện chủ đề tư tưởng của các phẩm. Nó nói lên mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống: cuộc sống chính là khởi nguồn cảm hứng sáng tạo, là chất liệu cho sự sáng tạo của người nghệ sĩ đồng thời, cuộc sống, con người cũng chính là đích đến, là mục đích cao nhất của nghệ thuật. Không những vậy, một tác phẩm nghệ thuật chân chính phải là tác phẩm thể hiện được chiều sâu, bản chất của hiện thực đằng sau cái vẻ ngoài đẹp đẽ, lãng mạn. Để làm được điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều, sâu sắc, toàn diện về hiện thực, phải có sự trải nghiệm và quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, gian khổ.

 

     III.         Tham khảo

 
http://tiepsucmuathi.edu.vn/tin-hoat-dong/soan-bai-chiec-thuyen-ngoai-xa-119.html

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

 

1. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

Dựng lên sự đối lập giữa hình ảnh chiếc thuyền trên bức ảnh nghệ thuật và tấn bi kịch của gia đình người ngư dân bên trong chiếc thuyền đẹp đẽ ấy, nhà văn thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật của mình : nghệ thuật chân chính bao giờ cũng bắt nguồn tử cuộc sống, phục vụ cuộc sống ; tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ là những nhân tố không thể thiếu được trong sự sáng tạo nghệ thuật.

Nguyễn Minh Châu đã không trực tiếp phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật của mình nhưng hệ thống nhân vật của tác phẩm và đặc biệt quá trình tự ý thức của người nghệ sĩ nhiếp ảnh (ở đoạn kết) đã toát ra điều đó (xem phần trích tác phẩm). Bằng hành động tự ý thức, Phùng đã nhận ra cái chưa đến được của mình để rồi đấu tranh tự hoàn thiện. Đây cũng chính là khát vọng kết nối Chân – Thiện – Mĩ mà suốt đời nhà văn Nguyễn Minh Châu luôn khao khát và tìm kiếm

2. Giá trị nhân đạo của tác phẩm

Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm giàu giá trị nhân đạo. Viết truyện ngắn này, Nguyễn Minh Châu muốn bày tỏ sự thông cảm đối với cuộc sống của con người nơi vùng biển vắng. Tư tường nhân đạo của truyện ngắn thể hiện ở thái độ quan tâm đến con người đến con người bất hạnh của nhà văn. Phê phán hành động vũ phu của người chồng, đồng thời Nguyễn Minh Châu muốn cho người đọc thấy rõ tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng tối của xã hội đương đại. Nhà văn còn mạnh dạn nêu lên phản ứng dữ dội của đứa con để nhấn mạnh hậu quả trầm trọng của tệ nạn này. Chính người vợ đã gửi đứa con lên ở với ông ngoại để khỏi chứng kiến cái ác hoành hành ngay trong gia đình. Người vợ hy sinh cũng để bảo vệ cho hạnh phúc gia đình. Dẫu viết về bạo lực gia đình, nhưng Nguyễn Minh Châu đã báo động những vấn đề xã hội nhức nhối. Gióng lên một tiếng chuông báo hiệu điều ác, Nguyễn Minh Châu đã đấu tranh cho cái thiện. Tư tưởng nhân đạo của truyện chính là ở điểm ấy.

Ngoài ra, giá trị nhân đạo còn được thể hiện qua việc xây dựng nhân vật người đàn bà.[5] Hình ảnh người đàn bà vùng biển xấu xí, nhẫn nhục vẫn toát lên vẻ đẹp của tình mẫu tử, một vẻ đẹp đầy nữ tính, vị tha của người phụ nữ ở một miền biển còn nghèo đói, lạc hậu. Như vậy ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện nhưng khát khao hạnh phúc bình dị của người lao động. Dẫu nghiệt ngã những phận đời, dẫu còn nhiều nghịch lý, nhưng ẩn chìm trong những trang văn của Nguyễn Minh Châu vẫn là chất nhân văn lấp lánh.

3. Phân tích tác phẩm

Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp” (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người- Tap chí Văn học, 1993, số 3, tr.20).

Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.

Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa Anh từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khỏe khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!).

Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”. Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ cho chúng ta : cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hoà với nó. Cách lý giải về con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.

Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.” . Và những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn, những con người gặp gỡ thật đáng yêu…Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc – thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu).

Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn chắc của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”. Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.

Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh. Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếcthuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người.

Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.

Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người vhà cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi).

Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía : “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu).

Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia? Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.

Truyện của Nguyễn Minh Châu luôn có những ý nghĩa triết lí sâu xa như thế. Ý nghĩa của cuộc sống. Con người sống cả trăm năm, dường như chỉ để đi tìm câu trả lời “mình sống để làm gì?”. Chao ôi, nhiều, nhiều điều lắm. Sống để mà yêu thương, sống để chia sẻ, cảm thông, để biết đau trước nỗi đau của muôn người, biết khóc với những cảnh đời nghiệt ngã, biết màu hồng nhất của hạnh phúc, màu tím nhất của sầu muộn.

Nguyễn Minh Châu đã để lại trong lòng người đọc một nỗi buồn man mác vô tận, phải chăng ông đã viết nên một cuốn tiểu thuyết về cuộc sống? mà mọi người đang rọi mình vào đó. 

 

Hãy chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta

Mỗi chúng ta sống khỏe mạnh và bình yên đều nhờ vào không gian trong lành mà thiên nhiên ban tặng, hay nói cách khác không có nguồn không khí trong lành thì cuộc  sống của chúng ta sẽ bị hủy diệt. Vậy, có lúc nào chúng ta tự hỏi nguồn không khí đó bắt đầu từ đâu?  Để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta, các bạn hãy cùng tôi phân tích để sáng tỏ những luận điểm và dẫn chứng dưới đây.

Bầu không khí có thể được xem như là thức ăn nước uống hàng ngày của chúng ta, chúng ta có thể sống nghèo khổ trong một thời gian dài nhưng chúng ta không thể thiếu không khí trong một vài giờ được. Không khí là môi trường tất yếu đối với con người. Và để cho môi trường không khí trong lành thì điều quyết định nó không phải là cuộc sống hiện đại mà quan trọng nhất là chúng ta phải biết bảo vệ màu xanh của cây cỏ thiên nhiên, người ta thường ví “Rừng là lá phổi của con người, là nơi nuôi sống con người”. Từ đặc điểm này ta nhận thấy rừng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống của chúng ta, bởi không có rừng, không có màu xanh của cây cỏ thì sự sống trên trái đất chắc chắn sẽ không còn  tồn tại và rừng còn cho ta nhiều giá trị khác quan trọng nữa không chỉ về mặt tinh thần.

Vậy để con người trên trái đất này có thể tồn tại một cách khỏe mạnh và bình yên thì nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải bảo vệ rừng.

http://tiepsucmuathi.edu.vn/ngu-van/chung-minh-rang-bao-ve-rung-la-bao-ve-cuoc-song-cua-chung-ta-110.html

Từ thời xa xưa, rừng là một kế sinh nhai cho cuộc sống của con người, cha ông ta trước đây khi kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, không đủ ăn đã sống dựa vào rừng như lấy gỗ làm vật liệu xây dựng nhà, săn bắn muông thú trong rừng để làm thức ăn và cho đến ngày nay rừng vẫn là nguồn cung cấp nguyên vật liệu quan trọng cho việc làm giấy, làm nhà, làm các đồ dân dụng trong gia đình. Có những đồ vật chỉ có thể làm được từ những loại gỗ của thiên nhiên mới đẹp, điều đó có nghĩa dù hiện nay con người có thể làm ra các loại gỗ nhân tạo nhưng dường như nó vẫn không thể thay thế được gỗ tự nhiên về độ bền, đẹp…

Cho dù hiện tại những vật dụng chúng ta có thể làm thay thế nó bằng những nguyên liệu khác nhưng vẫn không thể bền đẹp được như chính những đặc trưng của gỗ tự nhiên.

Ngoài ra rừng còn là nơi cung cấp những loại thuốc quý hiếm từ xưa đến nay người ta đã biết tìm trong rừng những loại thuốc chữa bệnh cho con người rất hiệu nghiệm nhiều khi còn hơn cả thuốc Tây. Rừng như một thế giới riêng, ở đó có rất nhiều những sản phẩm quý hiếm, những loài lá có thể chữa bệnh cho con người mà không nơi nào có được.  Rừng còn là ngôi nhà bình yên của muôn loài động vật, rừng còn đem lại giá trị về du lịch sinh thái giúp cho con người có những giây phút thư thái hít thở bầu không khí trong lành. Rừng còn ngăn dòng nước lũ từ chảy từ vùng cao xuống vùng thấp.

Khí hậu ngày một khắc nghiệt bởi chúng ta đang sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa vấn đề ô nhiễm môi trường là một vấn đề mà xã hội đang thực sự quan tâm. Đứng trước vấn đề đó, rừng cũng bị ảnh hưởng to lớn trước tác động của con người. Vì cuộc sống mưu sinh, con người phải khai thác, chặt cây để lấy gỗ, săn bắt các loại thú quý hiếm trên rừng và vô tình chung đã làm mất đi nguồn tài nguyên vốn có. Các đợt lũ lụt kéo dài rừng bị sạt lở nghiêm trọng, các loại thú quý trên rừng ngày một ít dần đi.

Và quan trọng nhất như ta đã từng nói ở trên, rừng chính là môi trường sinh thái, môi trường sống của loài người. Chúng ta biết rằng cây xanh hút khí cacbonic vào để rồi tạo ra chất oxi, một loại không khí vô cùng cần thiết cho con người, cho cuộc sống. Do đó rừng chính là nhà máy lọc không khí tốt nhất mà không có bất cứ nhà máy lọc khí hiện đại nào trên thế giới có thể thay thế được.. Bên cạnh đó rừng còn là bức tường rào vững chắc ngăn cản lũ lụt, ngăn sự lấn chiếm của cát vào đất, rừng giữ đất giữ nước… Chính từ những tác dụng to lớn như vừa nêu ở trên ta mới nhận thấy việc tàn phá rừng đang diễn ra hiện nay là một việc làm vô cùng nguy hiểm, nó không chỉ là sự tàn phá vẻ đẹp tự nhiên, nguồn nguyên Liệu tự nhiên mà nguy hiểm hơn đó chính là hành động tự hủy hoại cuộc sống của loài người, đẩy con người vào “chiếc thùng đậy kín”, sớm muộn gì cũng gây nên hậu quả khôn lường.

Hậu quả đầu tiên sẽ đến đó là những nơi trước đây tràn đầy màu xanh, không khí trong lành mát mẻ sẽ được thay thế vào đó là sa mạc đầy cát bỏng và làn gió đầy cát bay mù mịt. Khung cảnh đó không còn gợi cho con người cảm giác thư thái mát mẻ, thoải mái nữa mà nó chỉ gợi cho con người cảm giác mệt mỏi, sự thèm khát một bóng râm, một làn nước mát. Thú rừng chẳng còn nơi trú ngụ, thế giới trở nên xơ xác tiêu điều. Các nhà máy không có nguyên vật liệu để sản xuất.

Hậu quả tiếp theo vô cùng quan trọng đó là con người trên trái đất sẽ ốm yếu và chịu nhiều thiên tai bất thường khủng khiếp. Một trận lũ lụt có thể hủy diệt toàn bộ sự sống của cả một thành phố. Bệnh tật kéo theo khi lũ lụt làm cho nguồn nước ô nhiễm, của cải tiêu tán theo dòng nước lũ.

Và có một điều thật sự nguy hiểm đó là bầu không khí của chúng ta đang bị ô nhiễm ở mức báo động. Ngoài việc phá rừng làm ảnh hưởng đến môi trường thì ngày nay khi xã hội càng phát triển các nhà máy công nghiệp mọc lên ở khắp nơi trên thế giới, những ống khói như những mũi tên độc chĩa lên bầu trời vốn trong lành của chúng ta khiến cho bầu trời ngày càng trở mờ mịt bởi những lớp khí bẩn bụi hòa vào. Và biết bao con người ngày đêm hít những luồng khí độc, ô nhiễm đó. Ngày nay trên thế giới có thêm nhiều căn bệnh lạ khó chữa, chắc chắn đó chính là hậu quả của ô nhiễm môi trường. Nếu để tình trạng này kéo đài thế giới sẽ còn rất nhiều hiểm họa bất ngờ và không thể lường trước được.

Chúng ta biết rằng hiện nay vấn đề được quan tâm nhất chính là môi trường, là sự bảo vệ môi trường. Thế nhưng trên thực tế nhiều cá nhân vì lợi ích cá nhân của mình mà đang tâm phá hủy môi trường và sâu xa thì đó cũng chính là hành động tự giết mình.

Rừng – quần thể cây xanh – có vai trò đặc biệt trong việc duy trì nồng độ cao của ôxi trong khí quyển. Các nhà khoa học đã tính ra rằng 1 ha rừng vào mùa xuân và mùa hè trong thời gian một giờ thải vào khí quyển một lượng ôxi đủ cho 200 người hô hấp. Bênh cạnh đó, sự quang hợp giải phóng O2 còn góp phần rất quan trọngtrong sự hình thành tầng ôzôn được ra bởi sự quang phân li phân tử O2 dưới tác động của bức xạ mặt trời. Tầng ôzôn giúp chúng ta tránh khỏi sự hủy hoại của tia tự ngoại… “Lí lẽ đơn giản ấy thiết nghĩ ai trong chúng ta cũng đều được học qua từ những ngày còn là học sinh tiểu học. Ấy vậy mà có nhiều người vẫn cố quên hay cố tình quên, để tự động viên hành vi sai trái của mình là “Ôi chao! Rừng thì bạt ngàn, chặt phá vài héc ta thì có là bao”. Điều đó thật
không thể chấp nhận. Công nghiệp phát triển đã dẫn đến biết bao là sự ra đi vĩnh viễn của hàng ngàn cánh rừng. Đã vậy, khói thải từ các nhà máy và bụi bẩn từ cuộc sống hiện đại lại góp phần không nhỏ trong việc phá hủy tầng ôzôn. Vừa bị giảm đi đáng kể lượng dưỡng khí vì rừng bị tàn phá, con người phải đối diện với biết bao hậu quả khôn lường của việc tầng ôzôn ngày một
lâm nguy. Liệu sẽ ra sao nếu một ngày rừng không còn? Thật chẳng dám tưởng tượng đến cái cảnh đó. Không còn O2 cho chúng ta hô hấp, tầng ôzôn bị tàn phá hoàn toàn, tia tử ngoại chiếu thẳng xuống trái đất… Khi ấy, liệu cuộc sống sẽ còn?
Nên nhớ, địa cầu được gọi là “hành tinh xanh” bởi tất cả các hành tinh thuộc Thái Dương hệ đều không còn có được màu xanh của rừng, của biển, của sự sống, của niềm tin… như Trái Đất. Chính vì thế, phải giữ vững màu xanh hạnh phúc của rừng, của cây xanh, của niềm tự hào vì có được một người bạn trung thành tiếp dưỡng cuộc sống cho chúng ta. Nói đến hành tinh xanh, lại có thêm một lí do để chúng ta phải bảo vệ rừng.
http://tiepsucmuathi.edu.vn/ngu-van/chung-minh-rang-bao-ve-rung-la-bao-ve-cuoc-song-cua-chung-ta-110.html
Phải giữ gìn nguồn tài nguyên vô giá ấy. Rừng không chỉ là môi trường cho cây xanh quang hợp mà còn là thiên đường nơi cõi thế cho những người yêu thiên nhiên. Ngày xưa, chính Nguyễn Trãi đã chấp nhận đánh đổi quyền thế, bổng lộc để trở về ở ẩn Côn Sơn, để cảm nhận được phong vị trong lành của rừng xanh.
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
…Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Trong rừng thông mọc như nêm
Tìm nơi bóng mát ta ngâm thơ nhàn…”
Ung dung, thanh thản và tự tại biết bao nơi núi đồi hoang dã mà cũng đầy thú vị ấy. Từng câu thơ mở ra trước mắt ta khung cảnh hữu tình hùng vĩ. Chợt nghe lòng bao cảm xúc thăng hoa, tự trong ta khẽ khàng tri ân thiên nhiên núi rừng. Cảm ơn Người vì đã cho đời những Côn Sơn, những rừng xanh… Cảnh đẹp này liệu có bất kì máy móc công nghệ nào tự tạo ra được chăng? Rời Côn Sơn và rời thế kỉ XVI của Nguyễn Trãi, lúc thiên nhiên vẫn chưa “vướng đục bụi… công nghiệp”, ta đến Việt Bắc những năm đầu thế kỉ XX. Chao ôi, làm sao Tố Hữu lại may mắn chứng kiến bức tự tình lộng lẫy đến thế của núi rừng:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung…”
Bốn bức tranh như được vừa từ chốn bồng lai chứ chẳng phải cảnh đẹp của hạ giới. Ấy vậy mà đó là thật đấy, và nhờ nhà thơ ta chứng kiến bốn mùa xoay chuyển ở Việt Bắc với tất cả rung động nhỏ nhặt nhất của thiên nhiên. Và cũng tài tình biết bao khi chỉ vỏn vẹn một câu lục mà cái hồn, cái thần sắc của cảnh đẹp từng mùa cứ thế đi vào thơ, lung linh, dịu dàng… Đọc những dòng thơ mà tự thấy lòng đang sống trong cảnh đang thưởng ngoạn núi rừng với tất cả niềm say mê. Sao mà kì vĩ thế chốn rừng sâu? Sao mà tươi mát lạ thường cái màu xanh của chồi non lộc biếc,  trắng tinh khiết của rừng mơ Việt Bắc. Ta về ta nhớ những hoa cùng người. Có thể tình dân Việt Bắc vẫn nồng ấm thủy chung nhưng hoa rừng Việt Bắc chẳng biết đã lưu lạc phương nào. Đau xót biết bao nhiêu! Ấy vậy mà còn có những kẻ nhẫn tâm chặt cây làm nhà, đốt rừng làm rẫy. chẳng lẽ tâm hồn họ không cảm thấy chua xót khi nhìn lá phổi xanh của mình quặn đau? Chẳng lẽ trước màu xanh bạt ngàn ấm áp của rừng, họ không thấy lòng se lại những cảm xúc ngổn ngang? Đó là một hành động không thể chấp nhận được dù với bất cứ lí do nào. Cần có những biện pháp mạnh để ngăn chặn việc hủy hoại môi trường sống, hủy hoại cả tương lai của con người. Bởi rừng không chỉ là lá phổi, là nguồn dưỡng khí giúp ta tồn tại, là nơi bảo vệ ta khỏi hiểm họa hiệu ứng nhà kính… mà hơn hết rừng còn là người bạn trung thành nhất của ta. Nói cách khác, rừng nuôi dưỡng ta cả thể xác lẫn tâm hồn. Nhất là khi cuộc sống ngày càng vội vã, hay một lần đến hòa mình vào thảm thực vật của rừng xanh. Chính nơi ấy sẽ cho ta cảm giác yên bình, thanh thản và nhận thức sâu sắc rằng cần lắm phải bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh. Thật đáng sợ nếu một ngày “hành tinh xanh” của chúng ta không còn màu xanh của lá cây, rừng già. Chính vì thế, chúng ta hãy bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn sống của con người. Hãy giữ mãi sắc xanh hi vọng của “Hành tinh xanh”, giữ cho “lá phổi” của Mẹ Thiên nhiên luôn trong lành.

Và điều quan trọng nhất bây giờ nếu con người còn muốn tồn tại thì chính bản thân mỗi người cần có ý thức trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường đang dần dần bị hủy hoại. Trên đây là những luận điểm, những dẫn chứng mà tôi đưa ra để chứng minh bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Mong rằng mỗi chúng ta đều đặt lên mình nhiệm vụ tuy nhỏ bé nhưng hết sức quan trọng đó là bảo vệ lá phổi, nguồn sống của nhân loại. 

Hướng dẫn soạn bài thành ngữ cho học sinh

Bạn đang cần tìm tài liệu để soạn bài thành ngữ cho môn học của mình? Dưới đây là những kiến thức mà chúng tôi cập nhật để các bạn có thể tham khảo và hiểu hơn về cách soạn bài thành ngữ và có một bài tập hoàn chỉnh nhất khi đến lớp.

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khái niệm thành ngữ:

Thành ngữ là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp; không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ thường được sử dụng trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh.

Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.

a) Cho ví dụ sau: Nước non lận đận một mình

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

– Có thể thay một vài từ trong cụm từ lên thác xuống ghềnh bằng những từ khác được không? Có thể thay đổi vị trí các từ trong cụm từ này được không?

– Cụm từ lên thác xuống ghềnh là thành ngữ, vậy thành ngữ có đặc điểm gì?

Gợi ý: Thành ngữ thuộc loại cụm từ cố định, không thay đổi về cấu tạo trong sử dụng.

b) Hãy giải thích nghĩa của các cụm từ lên thác xuống ghềnh, nhanh như chớp.

Gợi ý: Chú ý tới ý nghĩa được biểu thị thông qua các hình ảnh. Lên thác xuống ghềnh: khó khăn, gian khổ chồng chất, long đong, lận đận liên tục; nhanh như chớp: diễn ra rất nhanh, bất chợt, trong chớp nhoáng.

2. Sử dụng thành ngữ

a) Tìm các thành ngữ trong những câu sau:

– Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non. (Hồ Xuân Hương)

– Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em một cái ngách sang nhà anh, phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang …(Tô Hoài)

b) Các thành ngữ giữ chức vụ ngữ pháp gì trong câu?

c) Phân tích tác dụng của việc dùng thành ngữ trong các câu trên.

Gợi ý: Thành ngữ bảy nổi ba chìm làm vị ngữ trong câu, thành ngữ tối lửa tắt đèn là phụ ngữ của danh từ khi. Cũng có khi thành ngữ làm chủ ngữ trong câu, ví dụ: Mưa to gió lớn làm tan hoang cả khu vườn.; hay làm phụ ngữ cho động từ như: Nó chạy nhanh như chớp. So sánh giữa các thành ngữ với các cụm từ đồng nghĩa để rút ra nhận xét về tác dụng biểu đạt của thành ngữ, ví dụ: so sánh giữa bảy nổi ba chìm với long đong, phiêu dạt khắp nơi; so sánh tắt lửa tối đèn với khó khăn, hoạn nạn

II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi

1. Thế nào là thành ngữ

Câu 1.  – Nhận xét về cụm từ “lên thác xuống ghềnh”.

Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

+ Về cấu tạo: gồm có 4 từ – có nghĩa trái ngược nhau (lên – xuống)

+ Ta không thể thay thế bất cứ từ nào trong cụm từ này và cũng không thể chêm xen một từ khác vào, cũng không thể thay đổi vị trí của các từ trong cụm từ.

= > Bởi cụm từ đã có cấu tạo cố định, các từ tạo nên chúng đã lên kết thành một khối hoàn chỉnh, nếu ta thay đổi nó sẽ trở nên cọc cạch, mất đi sự hoàn chỉnh.

– Kết luận về cụm từ:

+ Cụm từ lên thác xuống ghềnh có cấu tạo cố định

+ Biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh.

Câu 2.  – Tìm hiểu ý nghĩa của cụm từ lên thác xuống ghềnh.

+ Nghĩa đen:  Lên – xuống: chỉ hành động di chuyển ngược chiều nhau Thác – ghềnh: sự khó khăn, nguy hiểm.

+ Nghĩa bóng: là vượt qua những nơi có nhiều gian nan nguy hiểm.

– Ý nghĩa của thành ngữ “Nhanh như chớp” – nghĩa là rất nhanh ta chưa kịp nhìn thấy đã biến mất rồi và đi rất xa. Nói nhanh như chớp – > hàm ý so sánh sự việc và hành động diễn ra nhanh chóng, mau mẹ quá mức.

2. Sử dụng thành ngữ.

Câu 1.  – Xác định vai trò của thành ngữ.

+ Bảy nổi ba chìm – > làm vai trò vị ngữ của câu

+ Tắt lửa tối đèn – > làm bổ ngữ cho động từ phòng.

– Cái hay của hai câu thành ngữ trên.

+ Ngắn gọn, hàm súc tiết kiệm được lời.

+ Tính hình tượng cao vì cho ta nhiều ấn tượng sinh động.

III. Luyện tập

Câu 1. Tìm và giải thích các thành ngữ trong các câu sau đây.

a. – Thành ngữ của câu trên: sơn hào hải vị, nem công chả phượng.

– Nghĩa của thành ngữ:

+ Món ăn quý hiếm trên núi, vị ngon quý hiếm ở biển.

+ Những thức ăn quý hiếm ở mọi nơi được lựa chọn.

b. – Thành ngữ được sử dụng trong đoạn văn của chuyện cổ tích (Thạch Sanh).

+ Tứ cố vô thân

+ Khỏe như voi

– Nghĩa của thành ngữ:

+ Tứ: bốn; cố: quay đầu nhìn lại; vô: không; thân: người thân, bà con họ hàng; đơn độc, không có họ hàng thân tích, không nơi nương tựa.

c. – Thành nữ trong câu thơ trên: da mồi tóc sương.

– Nghĩa của thành ngữ:

+ Da đồi mồi có nổi những chấm đen, xanh, nhất là ở hai bàn tay và mặt; tóc sương là tóc bạc trắng.

= > Con người thay đổi nhan sắc hình dáng, trở nên tàn tạ già nua.

Câu 2. Yêu cầu phải tóm tắt được những sự việc chính yếu nhất. Cuối mỗi bài phải dẫn được câu thành ngữ có liên quan. Tham khảo các bài tóm tắt dưới đây:  Tóm tắt truyện con Rồng cháu Tiên  Tóm tắt truyện ếch ngồi đáy giếng  Tóm tắt truyện thầy bói xem voi

Câu 3. Điền thêm yếu tố để thành ngữ được trọn vẹn.

– Lời ăn tiếng nói

– No cơm ấm áo

– Một nắng hai sương

– Bách chiến bách thắng

– Ngày lành tháng tốt

– Sinh cơ lập nghiệp

Câu 4. Sưu tầm một số thành ngữ chưa được giới thiệu trong SGK và giải thích các thành ngữ ấy.

– Nhà tranh vách đất: nhà có mái bằng tranh, tường làm bằng đất

= > Cảnh nghèo xơ xác.

– Thuần phong mĩ tục: Phong tục, tập quán, lối sống tốt đẹp, mang bản sắc riêng của một dân tộc.

– Vững như bàn thạch: Bàn thạch tức bàn được làm bằng đá

= > Rất vững vàng, không gì lay chuyển được.

– Gan vàng da sắt: Biểu thị phẩm chất cao quý của con người trung thành kiên định không gì lay chuyển.

– Chó cắn áo rách: đã nghèo khổ lại còn gặp thêm tai nạn.

– Ruột nóng như cào: rất sốt ruột, bồn chồn không yên lòng.

– Nhắm mắt làm ngơ: cố tình lảng tránh, làm ra vẻ không hay biết gì về sự việc đang diễn ra.

– Mèo mù vớ cá rán: sự may mắn bất ngờ ngoài khả năng.

Mời các bạn theo dõi tiepsucmuathi.edu.vn để có thêm những tài liệu hữu ích phục vụ cho môn học của mình. Chúc các bạn có một kết quả học tập tốt nhất! 

Cảm Nghĩ Về Người Thân Trong Gia Đình Em

Tình mẫu tử, tình phụ tử là mối quan hệ tình cảm thiêng liêng cao quý nhất trong cuộc đời mỗi con người chúng ta. Người cha, người mẹ luôn được các thi sĩ, nhà thơ dành tặng những ca từ cao quý:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Công lao người cha,sự hi sinh của người cha không gì có thể đo đếm được tựa như núi Thái Sơn ngàn năm hùng vĩ. Trái tim của người mẹ luôn đằm thắm ngọt ngào và chảy dài bất tận tưa  dòng nước ngọt trong nguồn ngàn năm vẫn chảy. Với đề tài” Cảm nghĩ về người thân trong gia đình em“. Con xin được viết về người cha vĩ đại của con. Người đã một đời thầm lặng để đổi lấy cuộc sống đầy ắp tiếng cười cho con cho gia đình.

Cha con với dáng người tầm thước. Làn da ngăm đen chai sạn vì nắng gió. Cha rất ít cười nhưng mỗi khi cha cười thì nụ cười như vỡ òa bao điều hạnh phúc. Ánh lên nơi khóe mắt bao niềm vui.Nhưng…cha ít cười. Đứa con gái ngây thơ hồn nhiên chưa đủ lớn để hiểu được những nhọc nhằn âu lo mà cha phải gánh vác từng giờ. Gia đình đông con, mẹ phải gác chuyện cơm áo gạo tiền ở nhà nội trợ chăm bẵm năm chị em. Chỉ mỗi cha, đôi vai gầy lắc lư trong nắng gió, trong mưa sa gánh cả cuộc đời của bảy miệng ăn.

Nghe nội kể ngày xưa cha học giỏi lắm. Đặc biệt là môn toán. Nhưng vì cha là con trưởng, dưới cha còn 7 em. Cũng như bao người hiếu học cha thèm được đi học lắm. Nhưng nội bảo con đi học cũng được nhưng bảy em con sẽ không có ăn có mặc. Cha run lên bần bật trong tiếng nấc chạy ù ra góc sông. Độ vài ba tiếng cha trở về dõng dạc với nội rằng con không học nữa, con đi đốn củi kiêm tiền phụ mẹ thôi. Nghe nội thuật lại mà nước mắt con lã chã. Thương cha vô cùng. Dường như kiếp khổ kiếp nghèo đeo bám cha suốt quãng đời còn lại. Vì không có bằng cấp như bạn bè cha để làm ông to bà lớn. Cha phải vận lên mình bộ áo màu xanh lá úa,đôi ủng cao su sờn màu, chiếc ba lô con cóc… Cha trồng rừng (trồng keo lấy gỗ) nuôi năm chị em con ăn học.

Ở cái miền quê lam lũ ấy, con trai con gái chỉ học hết cấp 2 là quý lắm rồi. Ấy nhưng năm đứa con của cha,đều học đại học, học nghề. Cha bảo cha đã khổ rồi, cha muốn được học nhưng vì hoàn cảnh. Nay cha không muốn con năm con phải lầm lũi suốt đời như cha. Cha hay gõ đầu con và đùa:” Lo học đi con gái rượu, mai nay có nghề nghiệp rồi chỉ ngồi gõ gõ bàn phím, ăn vận đồ sạch sẽ như mấy chị trên thành phố kia kìa” Rồi cha lại lấy chiếc khăn màu bộ đội lau vội những giọt mồ hôi còn vương lại trên má. Giọt mồ hôi trên gương mặt cha dường như nó còn len vào cả giấc ngủ của con nữa đấy. Bởi cha con có bao giờ được thảnh thơi đâu. Cha con quần quật suốt ngày. Sáng con thức giấc đã không thấy cha đâu rồi. Như một thói quen con luôn hỏi mẹ :

– Cha đâu rồi mẹ? Hỏi vậy thôi nhưng thừa biết câu trả lời là cha đã lên rừng từ tờ mờ sáng.

Và khi con đã yên vị trên bàn ghế học bài thì mới thấy cha về. Mẹ vội đỡ chiếc ba lô con cóc. Cha nhìn con gái ra hiệu học bài đi cha ăn tối đây. Nhìn dáng cha gầy gầy xương xương hốc hác. Nhìn đôi mắt cha trũng sâu vì thiếu giấc. Mà con lại nhói đau nơi lồng ngực. Có lẽ đó là động lực để năm chị em con học nên  người bù đắp cho cha.

Con nhớ có hôm, cha nằm mãi không dậy. Thấy mẹ lo lắng chạy vào chạy ra. Mấy đứa em hốt hoảng khóc lóc. Cha liền thều thào dậy và nói :” Cha giả vờ ốm thôi mà, nín đi,giả vờ ốm để làm biếng ngủ  không dậy đó…” Vâng. Cha vờ ốm! Đôi lúc con lại dại dột nghĩ hay cha cứ ốm đi một tuần để không phải đi rừng nữa. Đêm đó đợi năm chị em con ngủ say. Mẹ khẽ nói cha:

– Mai em đưa anh lên thị trấn khám coi sao? Chứ nằm nhà thế này em và con lo lắm anh à. Cha gạt đi:

– Anh sốt nhẹ thôi. Cuống lên làm con lo. Anh không đi đâu.

– Anh lại tiếc tiền phải không?…

Cha im lặng không nói gì. Cố quay người một góc thở đều đều. Con thương cha lắm. Thương mà không làm được gì. Thương nên bảo ban em cùng nhau cố gắng mai này bù đắp cho cha.

Thời gian ì ạch trôi qua. Ngày con tốt nghiệp cũng đến. Cha háo hức lắm. Cha cười. cười rất tươi, khóe mắt nhăn nhúm lại vẫn cố ánh lên tia sáng ấm áp đến lạ thường. Hai cha con rong ruổi trên đường Nguyễn Chí Thanh ngắm thành phố diễm lệ cờ hoa. Con tủm tỉm bảo cha ngày con đi làm tháng lương đầu sẽ dẫn cha đi ăn những món cha thích, mua những bộ đồ mà cha chưa dám nghĩ tới…

Tháng lương đầu của con và em trai. Thay vì mua bộ áo mới,mua món ăn ngon. Chúng con thay bằng nén nhang , gói bánh…Và là sự câm lặng đến nghẹn lòng! Cha đi rồi. Vĩnh viễn không trở về nữa. Cha vĩnh biệt cõi trần gian đầy khổ ải để về thế giới bên kia. Thương cha, nhớ cha mà thắt đau ở trong lòng. Mà xé nát ruột gan. 6 vành khăn tang trắng xõa dật dờ…khói hương nghi ngút…Giấy bút nào viết được hết nỗi đau…

Cha ơi!

Cứ mỗi lần về thăm lại quê nhà. Ký ức về một mái nhà tranh, về bữa ăn đạm bạc cũng nhường nhau lại ùa về. Nhưng có lẽ đó là khoảng thời gian đẹp nhất của con. Ấm áp nhất của con. Đôi lúc con người ta sống trong vòng tay của cha của mẹ chúng ta không biết trân quý niềm hạnh phúc lớn lao đó. Nhưng các bạn biết không? Trên đời này cái gì bạn cố gắng bạn cũng có thể có. Nhưng bố, mẹ đã mất đi rồi thì có vàng chôn ngọc cất cũng không bao giờ đổi lại được.

Bỗng dưng con chợt nhớ đến câu nói  của một nhà văn nước ngoài  Edward Young : “ Ngôi nhà nhiều tiếng cười cũng là ngôi nhà nhiều phiền muộn” . Ngày bé thơ con không hiểu ý nghĩa câu nói này. Cảm thấy nó vô lý hết sức. Nhưng giờ đây con vô cùng thấm thía câu nói bất hủ  đó. Suốt cuộc đời cha. Cha mang lại niềm vui, cha mang lại sự đủ đầy cho các con. Nhưng các con đâu hiểu được rằng phía sau nụ cười của con là tiếng thở dài mệt mỏi. Là những đắng cay chất chồng…

 

Cách soạn bài Vợ nhặt khi phân tích nhân vật Tràng của nhà văn Kim Lân

Nhắc tới văn học Việt Nam có lẽ không thể không nhắc tới  tác phẩm “Vợ nhặt”. Đó là một tác phẩm để lại những dấu ấn riêng đi cùng năm tháng mà  mãi sau này, mỗi chúng ta đều không thể quên hình ảnh một anh chàng được tạo hóa thô sơ, một cô vợ mà người ta lại có thể nhặt được trong thời kỳ khốn khó nhất lịch sử.

Sau đây tiepsucmuathi.edu.vn, sẽ giới thiệu đến các bạn bài văn phân tích nhân vật tràng, để các bạn có thể tham khảo và có những cảm nhận sâu sắc về Kim Lân cũng như tác phẩm của Ông khi  soạn bài Vợ nhặt.

Kim Lân là một trong những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc họa thành công nhân vật Tràng, một người hiện lên với những nét thô sơ chân chất, lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị, biết hướng tới tương lai tươi đẹp.

Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập (Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật.
Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng .
Tràng được khắc họa nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945 . Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo, dở khóc, dở cười giữa Tràng và Thị, một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói .
Kim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo: Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc, tình yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói. Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế: nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ. Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa.

Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật, đặc biệt là Tràng.

Lần đầu tiên Tràng được đi bên một người đàn bà mà cả cuộc đời nghèo khổ của anh chưa bao giờ dám mơ tới. Vốn là người thô kệch, vụng về, Tràng lại càng vụng về, ngượng nghịu hơn “tay nọ xoa vào tay kia lúng ta lúng túng”. Tràng muốn nói một câu gì đó  với người đàn bà nơi vắng vẻ mà không sao nói nổi vì ngượng ngùng. Cuộc đối thoại giữa hai người thật rời rạc, cộc lốc. Hạnh phúc đơn sơ nhưng Tràng tự hào hãnh diện. “Hắn cười tủm tỉm, đôi mắ ánh lên lấp lánh”. Tràng khoe với người đàn bà chai dầu mới mua hai hào. Tràng muốn đêm tân hôn của mình sáng lên một chút trong cái thảm cảnh tối tăm ấy phần nào để người đàn bà đêm đầu tiên về nhà chồng đỡ tủi.

Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi. Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.

Mặc dù người vợ được hắn nhặt vợ, nhưng Tràng không hề rẻ rúng, khinh miệt thị. Trái lại, Tràng vô cùng trân trọng, coi chuyện lấy Thị là một điều nghiêm túc. Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói “ đến thân còn chẳng lo nổi, lại còn đèo bòng”. Tràng chậc lưỡi “ kệ” cái đói, mua cho thị cái thúng con, vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình. Tràng hồi hộp chờ câu đồng ý chấp thuận của bà cụ Tứ.

Buổi sáng hôm sau, Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng . Hắn thấy hắn nên người . Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ.

Chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã có một ý thức bổn phận sâu sắc: “hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc.

Câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới chứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được. Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn.

Bằng biện pháp nghệ thuật khắc họa nhân vật, tác phẩm Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.

Mỗi khi nhắc tới  văn học Việt Nam hiện đại, tôi không bao giờ quên những cảm xúc của mình khi soạn bài Vợ nhặt. Ngày đó, hình ảnh của nạn đói năm 1945, hình ảnh của những cái thây  hai bên đường, những con người vật vờ qua ngày cứ ám ảnh lấy tôi mãi. Hình ảnh về một anh Tràng dường như tạo hóa đã đẽo gọt quá thô sơ, hình ảnh về một người con gái mà phải mang trên mình hai chữ Vợ nhặt.

 

 

Kể về một việc tốt mà em đã làm khiến Ba mẹ vui lòng

Trong mỗi chúng ta, chắc hẳn ai cũng từng được Ba mẹ  khen ngoan ngoãn khi mình làm được những việc tốt mặc dù nó rất nhỏ bé như: quét sân, gấp quần áo, lau nhà giúp Ba mẹ. Và sau những việc làm ấy chúng ta  cảm thấy mình trưởng thành hơn, lớn hơn và vui  vẻ hơn.

Sau đây tiepsucmuathi.edu.vn sẽ giới thiệu tới các bạn bài văn ý nghĩa Kể về một việc tốt mà em đã làm khiến ba mẹ vui lòng, để các bạn cùng tham khảo.

Em còn nhớ như in ngày ấy , khi em mới chỉ là một cậu học sinh lớp 3 bé nhỏ, em đã làm được một việc tốt mà  giờ nghĩ lại ngày đó em vẫn cảm thấy trong lòng hân hoan, vui sướng.

Hôm đó, một ngày chủ nhật đẹp trời, ánh nắng mặt trời trải khắp không gian chiếu lên những giọt sương còn đọng trên lá cỏ làm nó lung linh như những viên pha lê. Những chú chim non thi nhau hót líu lo sau vườn nhà nghe thật thích thú vui tai. Một ngày được nghỉ ngơi thư giãn sau một tuần học tập và làm việc vất vả của mọi người. Em vừa đi ra phòng khách vừa hát “Một ngày mới nắng lên, ta đưa tay chào đón…là…la…lá…lá…la..”  thì thấy Ba mẹ  đang chuẩn bị đồ đạc. Thấy thế em  lại nhanh nhảu hỏi: Ba mẹ đi đâu vậy ạ? “Ba mẹ  đi thăm bạn cũ, đã lâu rồi không còn gặp con à” ba em đáp. Mẹ nói với thêm vào “Hôm nay con trông nhà và giúp ba mẹ làm việc nhà nhé! Chiều ba mẹ về có quà cho con”. Nghe mẹ nói xong em cảm thấy cụt hứng, những dự định được đi chơi tan biến, chưa làm việc gì mà cảm thấy mệt mỏi. Trước giờ em có động tay, động chân vào mấy việc này đâu, có thời gian rãnh là đi chơi với đám bạn nên mệt mỏi là phải rồi.

Ba mẹ em vừa ra khỏi nhà thì lũ bạn em chạy ùa vào “Khánh ơi! Đi thôi!”, một đứa trong bọn la lên, em ngạc nhiên hỏi “Đi đâu?” “Mày không nhớ hôm nay là ngày gì à?” Ngân hỏi lại, nó nhìn cái mặt ngơ ngác của tôi và nói tiếp “Hôm nay là ngày sinh nhật Minh Nhật lớp mình đấy” Em chợt nhớ ra và nói “Chút xíu nữa là quên mất, cảm ơn các bạn nha”. Em mời các bạn vào nhà và nói “Chờ tao một chút, đi thay quần áo”. Bước vào trong nhìn thấy nhà còn bề bộn, dơ bẩn em chợt nhớ lời mẹ dặn lúc nãy em nghĩ bụng  “Chết rồi nhà cửa như thế này làm sao mà đi được, với lại buổi tiệc cũng sắp bắt đầu rồi”. Em đắn đo cân nhắc có nên đi hay không, nếu đi thì tất cả việc nhà mẹ giao mình không làm chắc mẹ buồn lắm và mẹ phải bắt tay vào dọn dẹp thì càng vất vã. Còn nếu em không đi sinh nhật thì Minh Nhật sẽ giận và không chơi với em nữa, sinh nhật nó bốn năm mới tổ chức một lần vì nó sinh vào ngày 29/2. Em phải làm sao đây…? Một đứa ham chơi như em đây mà bỏ lỡ một cuộc vui như vầy thì thật là đáng tiếc. Suy nghĩ một hồi lâu, em quyết định ở nhà dọn dẹp nhà cửa. Chạy ra cửa nói với đám bạn là  không đi được và gởi lời xin lỗi đến Minh Nhật. Có thể nó giận và không chơi với em thì cũng một thời gian ngắn thôi, thế nào rồi cũng quay lại, tính Nhật trước giờ là như vậy.

Em bắt tay vào công việc. Bắt đầu là phòng ngủ, sắp xếp lại mền, gối cho ngay ngắn, quét dọn phòng sạch sẽ, kéo rèm lên cho nắng sớm vào phòng. Tiếp đến phòng khách phải quét bụi trên tủ, bàn rửa bộ ấm chén uống trà của ba và lau sạch nền gạch. Bước xuống bếp thấy chén đũa ăn sáng còn ngổn ngang trên bàn, một thau đồ mẹ giặt chưa phơi, trên bếp còn bề bộn xoong nồi, em hít một hơi dài và bắt tay vào việc. Trước giờ em chưa làm việc này nhưng vừa làm vừa nhớ lại lời mẹ dạy, miệng ngân nga câu hát mà công việc đã xong lúc nào không hay. Lần đầu tiên trong đời em thấy mồ hôi của mình chảy như suối vậy, cảm giác mệt mỏi xen lẫn niềm vui. Thành quả lao động của một cậu bé ham chơi, luôn lười biếng, ỉ lại ba mẹ, nhiều lúc ba mẹ nói lắm mới giúp, bây giờ làm việc một cách tự giác và hoàn thành rất tốt công việc được giao, trong lòng thấy vui sướng làm sao! Hạnh phúc biết bao! Thật sung sướng khi mình đã chiến thắng bản thân để vượt lên chính mình.

Nhìn lại những công việc mình đã hoàn thành, nhìn ngôi nhà ngăn nắp, gọn gàng em cảm thấy trong lòng thật vui sướng. Chưa bao giờ em nghĩ mình lại có thể một mình làm hết được những việc như vậy. Làm xong công việc, em tự thưởng cho mình một không gian thư giãn đó là đọc truyện tranh. Một sở thích đặc biệt của em và chờ Ba mẹ về.

Chiều đó ba mẹ về, thấy căn phòng gọn gàng sạch sẽ vừa bước vào nhà đã vui cười ba khen “Con trai của ba rất ngoan, biết nghe lời ba mẹ, cảm ơn con rất nhiều” em bẽn lẽn “Dạ con đã lớn rồi phải không mẹ”. Mẹ nói “Con mẹ đã lớn rồi, quà của con đây này” vừa nói mẹ vừa lấy trong túi ra một chú siêu nhân nhện tặng cho tôi “Cảm ơn ba mẹ, con thích lắm”. Mẹ làm cơm chiều thật ngon để đãi em vì thành quả lao động của một ngày “làm việc”.

Và cả gia đình em đã có một buổi tối thật hạnh phúc và đầm ấm bên mâm cơm đầy tình yêu thương của ba mẹ, cả nhà cười nói vui vẻ, mẹ ôm em vào lòng và dịu dàng nói: “Con của mẹ đã lớn thật rồi”.

Sau ngày hôm đó, em nghĩ về việc mình đã làm, e thấy thật hạnh phúc khi đã giúp được ba mẹ việc nhà mặc dù nó rất là nhỏ bé. Về sau em làm được nhiều việc hơn, cố gắng giúp đỡ ba mẹ bớt cực nhọc sau những ngày làm việc vất vả. Và em thấy hình như mình đang ngày càng trưởng thành hơn sau những việc làm bé nhỏ đó. Đó là khoảnh khắc  khiến cho em nhớ mãi khuôn mặt vui mừng, hạnh phúc của ba mẹ ngày hôm đó về một việc tốt  e mà em đã làm. Một mốc  kỉ niệm mà em nhớ mãi không quên trong kí ức tuổi thơ của mình./.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về một bài văn ý nghĩa để các bạn tham khảo, mong rằng các bạn sẽ có những bài văn hay cho mình. 

 

TOP +10 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Lúa Quê Em Mới Nhất 2017

TOP 10 bài văn thuyết minh về cây lúa quê em, cây lúa nước Việt Nam đã in sâu vào tiềm thức mỗi người, mỗi đứa trẻ. Hình ảnh cây lúa cùng như những đứa trẻ lớn lên từng ngày qua năm tháng với đồng quê trong xanh, hương lúa thơm ngát một vùng trời. Bài văn thuyết minh về cây lúa quê em muốn gửi gắm hay lời nhắn nhủ muốn các e luôn nhớ về quê hương đất nước con người, không quyên đi nguồn cội nơi mình đã sinh ra đặc biệt là cây lúa, những cánh đồng hay những hành tre đều mang những kỉ ức tuổi thơ không bao giờ quyên.

Hãy cùng Tiepsucmuathi.edu.vn cùng giúp các bạn tìm hiểu rõ hơn về hình ảnh cây lúa Việt Nam, cũng như bài văn thuyết mình về cây lúa để bạn học tốt hơn và nhớ nhé đừng quyên những kí ức tuổi thơ, kí ức về cây lúa đã cùng ta trưởng thành trên con đường đời.

Bao xa cách nay về thăm lại
Cánh đồng làng nhẫn nại công cha
Ngạt ngào hương lúa toả xa
Đượm mồ hôi mẹ rớt qua tháng ngày !
TOP +10 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Lúa Quê Em Mới Nhất 2017

Bài văn thuyết minh về cây lúa quê em mới nhất 2017

Các bạn đã sẵn sàng chưa ? Vậy chúng ta hãy cùng bắt vào thuyết minh về cây lúa Việt Nam nhé. Cũng như ao bài văn khác đều có các phần mở bài, thân bài, kết bài để tạo nên môt bài văn thuyết minh đầy đủ nhất. Hãy học hỏi những bài thuyết minh dưới để các bạn có ý tưởng hay cho bài văn phân tích của mình.

Bài Làm 1  : Bạn hãy thuyết minh về cây lúa nước của làng quê Việt Nam

Mở bài : ?ừ ??à? đờ? ???, ?â? ?ú? đã ?ắ? ?ó ??â? ???ế? ?ớ? ??? ??ườ?, ?à?? ??ê ??ệ? ???. ?ằ?? ?ạ? ?ạ? – ?ạ? ??ọ? ??ờ? ??? ???, ???? ??ê? đã ?à? ?ê? ?á?? ??ư??, ?á?? ??ầ? ?ượ?? ??ư?? ??? ??ờ? ?à đấ? – để ?í?? ?â?? ??? ?ù??. ??í?? ?ì ??ế, ?â? ?ú? ?ướ? đã ??ở ??à?? ?ộ? ?é? đẹ? ?ă? ?ó? ?ủ? ??ườ? ??ệ?. ?ì?? ả?? ?ủ? ?â? ?ú? ?à ??ườ? ?ô?? ?â? đã ??ở ??à?? ??ữ?? ?ả?? ?à? ??ô?? ??ể ???ế? ????? ?ứ? ????? ?ủ? ?à?? ??ê ??ệ? ??? ?â? ??ờ ?à ?ã? ?ã? ?ề ???.

?ú? ?à ?ộ? ??ự? ?ậ? ??ý ??á, ?à ?â? ??ồ?? ???? ??ọ?? ??ấ? ????? ??ó? ??ũ ?ố?, ?à ?â? ?ươ?? ??ự? ??í?? ?ủ? ??ườ? ??ệ? ??? ?ó? ??ê?? ?à ??ườ? ?â? ??â? Á ?ó? ?????. ?ú? ???ộ? ??à? ??â? ??ả?. ??â? ?â? ?ú? ??ò? ???? ??à?? ?ừ?? ?ó?? ?à ?ắ?. ?ó?? ??ườ?? ?ỗ?? ??ộ?, ??ỉ ?ó ??ầ? ?ắ? ?à đặ?. ?á ?ú? ?ó ???ế? ?à? ?à ?ỏ??,?ọ? ??? ????? ??â?, ?ặ? ?á ??á?, ?â? ?á ??ạ? ???? ????. ?ù? ??ờ? ?ì ???? ??ưở??, ??á? ???ề? ?à ?á ?ú? ?ó ?à? ??á? ????. ??? ?ú? ??í? ??ả ???? ?à? ?à??. ?ễ ?ủ? ?â? ?ú? ??ô?? ?à? ?ắ?, ??ườ?? ?ọ? ?ớ? ???? ??à?? ??ù? ?á? ??ặ? ?à? ?ù? để ??ữ ??? ??â? ?ú? ??ẳ?? đồ?? ??ờ? ?ú? ?ưỡ?? ??ấ? ??ô? ??â? ?â?. ??? ?ú? ??ỏ ??ắ?, ?ọ? ??à?? ???ề? ??ù? ?à?. Đ?ề? đặ? ??ệ? ?ủ? ?â? ?ú? ?à í? ?? để ý đế?. ??? ?ú? ?ũ?? ??í?? ?à ??ả ?ú? đồ?? ??ờ? ??ở ??à?? ?ạ? ?ú? ??? ?à?. ??? ?ú? ??ô?? ?ó ?á?? ???, ??ỉ ?ó ??ữ?? ?ả? ??ỏ ??? ?ọ? ?ấ? ???ỵ ở ?ê? ?????. ?ú? ??? ?ú? ?ở, đầ? ???ỵ ??ò ?? ???à?, ?ó ?ộ? ??ù? ?ô?? để ??é? ?ạ? ??ấ?. ??? ?ú? ?ự ??ụ ??ấ? ?ồ? ??ế? ??à?? ??ả. ??ấ? ???? ?ộ? ????? ??ả ??ô đặ? ?ạ? ?ầ? ?à ??ế? ??à?? ?ạ? ?ú? ??í? ?à??.
??ướ? đâ?, ??ườ? ??ệ? ??ỉ ?ó ??? ?ụ ?ú?: ???ê? ?à ?ù?. ??à? ???, ???? ?ọ? ??á? ???ể?, ?ỗ? ?ă? ?ó ???ề? ?ụ ?ố? ??ế? ????. ??ồ?? ?ú? ??ả? ??? ???ề? ???? đ?ạ?: ?ừ ?ạ? ??ó? ?ả? ?ầ? ??à?? ?â? ?ạ; ?ồ? ??ổ ?â? ?ạ ?ấ? ??ố?? ??ộ??. ??ộ?? ??ả? ?à? ?ừ?, ?à? đấ?, ?ó? ??â?. ??ộ?? ??ả? ?â? ?ấ? ?ướ?. ??? ?ú? đẻ ??á?? ??à?? ?ừ?? ?ụ? (đ??? ??ì ??? ?á?) ?ạ? ??ả? ?à? ?ỏ, ?ó? ??â?, ??ệ? ?â? ?ọ. ?ồ? ?ú? ?à? đò??, ??ổ ?ô?? ?ồ? ?ạ? ?ú? ??ắ? ?ạ?, ??í? ?à??. ??ườ? ?ô?? ?â? ?ắ? ?ú? ?ề ??ố? ?ạ?, ??ơ? ??ô, ??? ?á? ??à?? ?ạ? ?ạ?… ??ế? ??? ?ô?? ?ứ? ?ủ? ??à ?ô?? để ?ó ?ạ? ?ạ? ??ô? ?ố?? ??? ??ườ?.

?ạ? ?ạ? ?ó ??? ??ò ?ô ?ù?? ???? ??ọ?? đố? ?ớ? đờ? ?ố?? ?ậ? ??ấ? ?ủ? ??ú?? ??. ?ạ? ?ạ? ???? ?ấ? ??ấ? ???? ?ưỡ?? ???ế? ?ế?, ?ấ? ?ầ? ???ế? ??? ?ơ ??ể ??? ??ườ?. ???à? ??ệ? ??ô? ?ố?? ??? ??ườ?, ?ạ? ?ú?, ?ạ? ?ạ? ?ò? ?ắ? ?ó ?ớ? đờ? ?ố?? ???? ??ầ? ?ủ? ??ườ? ??ệ?. ?ó ???ề? ??ạ? ?ạ?: ?ạ? ?ẻ, ?ạ? ?ế?… ?ạ? ?ế? ?ù?? ?à? ?á?? ??ư??, ?á?? ??ầ? ?à ??? ??ạ? ?á?? ????ề? ??ố?? ?ủ? ??? ??ườ? ??ệ? ??? ????? ?ị? ?ế? ????ê? Đá?. ?á?? ??ư??, ?á?? ??ầ? ?ò? ?ắ? ??ề? ?ớ? ???? ??ê? ??ờ? ??? ?ù?? ?ự?? ?ướ?. ?ú? ?ế? ??? ?ò? ?ù?? để ?à? ?ố? – ?ộ? ??ứ? ??à ????? ?ị?? ?ủ? ??ườ? ?à ?ộ?. ?ạ? ?ế? ?ù?? để đồ ?á? ??ạ? ?ô? – ?ộ? ?ó? đồ ?ễ ??ô?? ??ể ???ế? ??ê? ?à? ??ờ ?ủ? ??ườ? ??ệ? ??? ????? ??à? ?ế? ?à ??à? ?ú?? ??ỗ ?ổ ??ê?. Đồ?? ??ờ? ?ô? ?ũ?? ?à ??ứ? ??à ???? ???ộ? ?ằ?? ??à?. ?ừ ?ú? ?ạ?, ??ườ? ??ệ? ?ò? ?à? ?ấ? ???ề? ??ạ? ?á?? ??ư: ?á?? đ?, ?á?? đú?, ?á?? ??ò, ?á?? ?ẻ, ?á?? ?ế?, ?á?? ??ở, ??á?… ?ế? ??ô?? ?ó ?ạ?, ??ậ? ?à ??ó ??ă? ????? ??ệ? ?ạ? ?ê? ?ề? ?ă? ?ó? ẩ? ??ự? ???? ?ả? ?ắ? ?ă? ?ó? ??ệ? ???.
??à? ???, ?ướ? ?? đã ??? ?ạ? đượ? ?ầ? ?0 ??ố?? ?ú? đượ? ?ô?? ??ậ? ?à ??ố?? ?ú? ??ố? ???. ??ệ? ??? ?ừ ?ộ? ?ướ? đó? ???è? đã ??ở ??à?? ?ộ? ?ướ? đứ?? ??ứ ? ??ê? ??ế ??ớ? ??? ??á? ??? ?ề ??ấ? ??ẩ? ?ạ?.

?ó? ?ạ?, ?â? ?ú? ?ó ?ầ? ???? ??ọ?? ?ấ? ?ớ? đố? ?ớ? ?ề? ???? ?ế ?ướ? ??à ??ủ ?ế? ?ò? ?ự? ?à? ?ô?? ????ệ?. ?â? ?ú? ??? đờ? ?à ?ạ? ??â? ???ế? ?ủ? ??ườ? ?ô?? ?â? ??ệ? ???, ??ô?? ??ỉ ?ề ?ặ? ?ậ? ??ấ? ?à ?ò? ?ả ?ề ?ặ? ???? ??ầ?. ?ã? ?ã? ?ẫ? ?ò? ???? ?ọ? ??ườ? ??ắ? ???? ??ữ?? ?ầ? đ?ệ? ?? ??? ??ấ? ???á?? ?ó?? ?ì?? ??? ??â? ?à ?â? ?ú?. Cây lúa chính là những kỉ niệm đầy ắp tiếng cười của của bọn trẻ thôn quê với gắn liền với đời sống thường ngày. Cánh đồng thẳng cảnh cò bay cùng những đứa trẻ chạy nhảy tung tăng  cùng mơi thơm của cây lúa khiến các bạn trẻ không bao giờ quên được.

Bài làm 2 : Tả bài văn về cây lúa quê em (nơi e gọi là ló )

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”.

Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v.

Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng.
Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó.

Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”.
Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất.

Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.

Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trổ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trổ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…

Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!

Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.

Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương. Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước – nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó, gần gũi với người Việt, hồn Việt là lẽ dĩ nhiên.

Bài Làm 3 : Các em Phân tích bài văn cây lúa quê em 
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.

Đất nước Việt Nam – cái nôi của nền văn minh lúa nước, bên mỗi xóm thôn bản làng, những cánh đồng xanh thẳm trải dài tít tận chân mây như dấu hiệu cho mọi du khách nhận ra đất nước nông nghiệp với sự gắn bó của con người cùng cây lúa xanh tươi.

úa là cách gọi thông thường không biết tự bao giờ trong từ điển Việt Nam, để chỉ loài cây lương thực chính trong ươm mầm từ những hạt thóc vàng căng mẩy. Hạt thóc ngâm nước ủ lên mầm gieo xuống lớp bùn sếch sang trở thành những cây mạ xanh non. Sau khi làm đất cày bừa kĩ, mạ non được bó lại như thằng bé lên ba con còn theo mẹ ra đồng và được cắm xuống bùn sâu qua bàn tay chăm sóc của người nông dân từng ngày, từng giờ lên xanh tươi tốt thành những ruộng lúa mênh mông bờ nối bờ thăm thẳm.

Lúa được phát triển theo ba giai đoạn chính: Giai đoạn mẹ non, mảnh mai yếu ớt như em bé sơ sinh run rẩy trước nắng mai hay gió bão lạnh lẽo. Những ngày mùa đông buốt giá, gieo mạ rồi để chuẩn bị cho vụ chiêm xuân, chẳng có người nông dân nào không xuýt xoa thương cho đám mạ con phải chịu cảnh rét buốt, thế là bao túi ni lông che kín bốn xung quanh bờ thửa ngăn cho cái rét không làm lạnh chân mạ.

Nắng hửng trời quan, bà già mùa đông mệt mỏi đi nghỉ ngơi nhường chỗ cho chị mùa xuân nhảy múa ca hát cùng lũ chim trên cành, bà con xã viên tưng bừng phấn khởi sau cái tết đón năm mới cùng với mạ non hồi sức vẫn kiên nhẫn vượt qua rét mướt, đã nô nức ra đồng làm việc. Họ đố nhau về bó mạ:

Việt Nam đất nước quê hương tôi

Mía ngọt chè xanh qua những nương đồi

Đồng xanh lúa rập rờn biển cả…

Thế là người cày người cấy, trâu bò làm bạn với nhà nông, chỉ trong vòng một tuần những cánh đồng đất ải trắng trước đây đã thành những ruộng lúa xanh non. Lúa cứ thế lớn lên dưới bàn tay chăm sóc nâng niu của các bác nông dân, trưởng thành đến thì con gái, đẻ nhánh sinh sôi thành những khóm to chật ruộng. Rì rào rì rào… lúa thì thầm ào ào trong gió như kể chuyện ngàn xưa. Những chiếc lá lúa dài giống hình lưỡi lê nhưng yểu điệu duyên dáng như trăm ngàn cánh tay đùa giỡn với gió, sóng lúa nhấp nhô giữa buổi chiều hạ hay nắng sớm mùa xuân gợi bức tranh đồng quê thi vị mượt mà. Đó là đề tài quen thuộc của thơ và nhạc du dương:

Chẳng mấy mốc ba tháng nông nhàn đã qua, lúa vào đòng làm hạt, mùi thơm của lúa nếp, của gạo mới thoang thoảng đâu đây. Khắp cánh đồng người ta chỉ thấy một màu vàng rực tươi rói, những bông lúa hạt đều tăm tắp uốn cong như lưỡi câu báo hiệu một mùa vàng bội thu. Ngày mùa cả làng quê toàn màu vàng, ngoài đồng lúa vàng xuộm, dưới sân rơm và thóc vàng ròn, chú cún vàng nhảy nhót lăng xăng như chia sẻ cùng chủ. Ai mà chẳng vui khi thành quả lao động của mình đến ngày được gặt hái.

Cứ thế một hay hai vụ lúa trở thành cây lương thực chính của người nông dân.: Vụ chiêm xuân từ tháng giêng đến tháng 4, tháng 5; vụ mùa từ tháng 6 đến tháng 9, tháng 10. Cây lúa đã đem đến cho đất nước một nguồn thu lớn, mỗi hécta cho ba tấn thóc, không chỉ là cung cấp lương thực đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong nước mà nó còn là nguồn xuất khẩu gạo.

Chúng ta tự hào có những cánh đồng lúa thóc quê hương như cánh đồng năm tấn ở Thái Bình, Đồng Tháp Mười ở đồng bằng Sông Cửu Long. Năm tháng trôi qua bước sang thế kỉ XXI, Việt Nam đi dần vào xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng hình ảnh cây lúa và giá trị tiềm năng của nó vẫn là vị trí số một trong quá trình phát triển đất nước chẳng thế mà nó được lấy làm biểu tượng của các nước trong khối ASEAN như một báu vật quý.

Bài làm 3 : Thuyết minh về cay lúa quê em – Văn học lớp 9

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”. Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay.

Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v.. – Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay.

Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng. Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó. Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”. Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa.

Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất. Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người.

Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh. Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trỗ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trỗ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng… Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to.

Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ! Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa.

Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên. Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.

Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó ,gần gũi với người Việt,hồn Việt là lẽ dĩ nhiên. Dưới đây là 1 đoạn thuyết minh về cây lúa mà mình sưu tầm được,bạn có thể tham khảo thêm: Từ ngàn đời nay,cây lúa đã gắn bó với con người,làng quê Việt nam.Và đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh-nền văn minh lúa nước. Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa và tinh thần.hạt lúa và người nông dân cần cù,mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt nam hiện nay và mãi mãi về sau Là cây trồng thuộc nhóm ngũ cốc,lúa cũng là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói riêng và người dân châu á nói chung.Cây lúa ,hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống.

Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc quan trọng không thể thiếu sự góp mặt của cây lúa,chỉ có điều nó được chế biến dưới dạng này hay dạng khác.Không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế,xã hội mà còn có giá trị lịch sử,bởi lich sử phát triển của cây lúa gắn với lịch sử phát triển của cả dân tộc VN,in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước.Trước đây cây lúa hạt gạo chỉ đem lại no đủ cho con người, thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành thứ hàng hóa có giá trị. Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước,hạt gạo gắn liền với sự phát triển của dân tộc…..cho đến nay vẫn là nền kinh tế của cả nước.

Chiều về đứng ở sườn đê
Hương thơm hạt thóc vọng về tới nơi
Sơn hào hải vị đất trời
Cơm quê mẹ nấu cả đời khó quên

Trên đây là một số bài văn thuyết minh về cây lúa Việt Nam được nhiều em học sinh làm bài được sưu tầm lại cho các bạn, hãy tham khảo những lời văn hay, ý đẹp để bạn có thể có mọt bài phân tích về cây lúa hay nhất cho bản thân. Cây lúa sẽ mãi mãi là người bạn tri kỉ của nông dân cũng như người bạn đầy kỉ niệm thời thơ ấu của những đứa trẻ. Vậy hãy cùng theo dõi chúng tôi để bạn có thể tham khảo những bài văn hay, mới nhất mà chúng tôi cập nhật nhé.