Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Phân tích hình tượng Người lái đò sông Đà là một trong những đề bài được ra trong các kì thi. và được nhiều nhiều bạn đọc tìm kiếm. tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật bài viết dưới đây để giúp các bạn có tài liệu tham khảo và làm bài một cách tốt nhất.

Ca ngợi hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân chính là một cách tôn vinh tài năng, ý chí, nghị lực của con người trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Mời các bạn cùng tham khảo những bài văn mẫu sau để có cái nhìn khái quát hơn về hình tượng người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa, uyên bác, cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống. Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”. Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông.

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” dược in trong tập tuỳ bút “Sông Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp,đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.

Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, NT còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”

Qua “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng, hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới: chất vàng mười của đất nước trong xây dựng CNXH qua hình ảnh người lái đò sông Đà.Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa.

Người lái đò hiện lên trước hết là một người lao động từng trải, có nhiều kinh nghiệm đò giang, có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một:

“Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này… Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…”

Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn vòng vây thứ hai“. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, người lái đò chỉ có một cán chèo, một con thuyền không có đường lùi còn dòng sông dường như mang sức mạnh siêu nhiên của loài thuỷ quái. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng, người lái đò vẫn chiến thắng, khiến cho bọn đá tướng tiu nghỉu bộ mặt xanh lè vì phải chịu thua một con thuyền nhỏ bé.

Người lái đò trong tác phẩm là một người lao động vô danh, làm lụng âm thầm, giản dị, nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ, trở nên lớn lao, kì vĩ, trở thành đại diện của CON NGƯỜI. Người lao động nhờ ý chí kiên cường, bền bỉ, quyết tâm mà chiến thắng sức mạnh thần thánh của thiên nhiên. Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc.

Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.

Quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông không có thác lại dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo. Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, chỉ có Nguyễn Tuân.

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây bắc mà còn ca ngợi vẻ đẹp bình dị, anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây. Qua đó, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu đất nước, niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với non sông Việt.

Người lái đò sông Đà đã thể hiện phong cách nghệ thuật tài hoa của Nguyễn  Tuân là một tác phẩm văn học lớn, có giá trị sống mãi trong lòng người đọc thì tác phẩm đó phải xây dựng được những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình hội tụ đầy đủ tài năng và tâm huyết của người nghệ sĩ. Nhân vật ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân là một nhân vật như thế.

Tuyển chọn bài văn hay Cảm nhận truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

Những ai đã từng đọc qua truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê có lẽ đều không thể quên hình ảnh ba cô gái t với ý chí kiên cường, họ gan dạ và sắt đá trong chiến đấu chống kẻ thù.

Dưới đây là tuyển chọn những bài văn hay Cảm nhận về truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê để mọi người cùng tham khảo và có những bài cảm nhận hay riêng cho mình nhé!

Bài 1: Đề bài: Em hãy cảm nhận truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê

“Ôi những cô con gái đang ngày đêm mở đường hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường” những câu hát ấy cho đến ngày nay vẫn cứ vang vọng trong những ca khúc viết về cách mạng. Nhà văn Lê Minh Khuê cũng góp một bài ca về những người con gái tuổi trẻ nhưng có sức mạnh phi thường trong sáng tác Những ngôi sao xa xôi.

Đến với tác phẩm này người đọc không thôi nhớ về ba nhân vật nữ. Đó là Phương Định, là Nho và chị Thao. Ba người con gái ấy tuổi chị mới khoảng mười bảy hai mươi nhưng lại có ý chí sắt đá trong chiến đấu. Trong công việc, họ gan dạ táo bạo và quyết đoán nhất là chị Thao. Chị Thao là người lớn nhất cho nên mọi công việc do chị phân công. Nhiệm vụ của ba cô gái là đo khối lượng đất đá bị bom làm hỏng trên cao xạ, đếm số bom chưa nổ và thậm chí là phá bom. Công việc ấy có thể mất đi tính mạng bất cứ lúc nào. Họ không những không sợ mà còn yêu chính công việc ấy. Đơn vị goi họ là tổ trinh sát mặt đường, có những lần về chỉ còn nguyên đôi mắt với hàm răng trắng còn lại đen sì. Thế nhưng trong cuộc sống đời thường, những lúc không đối diện với bom, chỉ cần trở về hang nơi họ sống những cô gái ấy lại trở về hồn nhiên với chính tính cách của họ. Mỗi người có một sở thích riêng, Phương Định thích hát, thích suy nghĩ lung tung còn Nho thích thêu nhưng bông hoa lòe loẹt, chị Thao thích chép bài hát mặc dù chị chẳng biết hát. Họ cũng có cả những ước mơ hoài bão về sau này, khi đất nước thống nhất. Ba cô gái ấy khi ở cao xạ thì kiên cường bất khuất, khi ở trong hang thì lại mơ mộng, hồn nhiên tươi trẻ.

Không chỉ vậy, qua tác phẩm người đọc có thể hình dung được một hiện thực chiến tranh thời kì kháng chiến chống Mỹ. Đế quốc Mỹ một quốc gia giàu mạnh về vũ khí hạt nhân, những lần bom đạn của chúng ném xuống cao xạ, ném xuống mảnh đất Việt ta là đất đá sạt lở , cây cối xơ xác. Con người phải ngày ngày sống trong nỗi căng thẳng đầu óc, đất bắn cả vào mắt vào mồm. Tử thần lúc nào cũng trực đợi có xác chết là ùa tới vác đi. Có thể nói nhân dân ta đã phải chịu biết bao nhiêu đau thương và mất mát. Thế nhưng những người con Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ vẫn kiên cường, vẫn có một đời sống riêng lạc quan, tươi trẻ.

Truyện có sự đan xen giữa tâm tưởng, ý thức. Cứ chuyện ở thực tại rồi lại tới những chuyện trong suy nghĩ của nhân vật Phương Định. Nhà văn Lê Minh Khuê sử dụng chất văn nhẹ nhàng ngọt ngào mà sâu lắng. Để cuối cùng, tác phẩm đọng lại trong lòng người đọc với một cảm xúc thật đẹp, vừa trong sáng vô ngần lại vừa hào hùng anh dũng.

Bài 2: Đề bài:  Cảm nghĩ của em về Những ngôi sao xa xôi’ của Lê Minh Khuê

Là cây bút chuyên về truyện ngắn ,trong chiến tranh Lê Minh Khuê viết về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn . “Những ngôi sao xa xôi” là tác phẩm đầu tay của bà ,được viết năm 1971 giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc đang diễn ra rất ác liệt.Truyện giúp ta hiểu hơn về cuộc sống của những cô gái thanh niên xung phong trên một cao điểm ở tuyến đường Trường Sơn.

Truyện xoay quanh ba nhân vật nữ thanh niên xung phong trong tổ trinh sát mặt đường . Họ là ba người nhưng công việc gắn bó họ thành một khối thống nhất. Họ cùng sống và chiến đấu tronh hoàn cảnh vô cùng gian khổ , ác liệt : ở trên một cao điểm trọng yếu của tuyến đường Trường Sơn, làm công việc đặc biệt nguy hiểm: “khi có bom nổ thì đo khối lượng đất lấp vào hố bom ,đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” .

Nghĩa là họ ở nơi tập trung nhiều bom đạn , làm công việc luôn đối mặt với cái chết . Họ cảm nhận rõ ràng : “Đất bốc khói , không khí bàng hoàng , máy bay đang ầm ì xa dần .Thần kinh căng như chão , tim đập bất chấp cả nhịp điệu ,chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ .” Công việc thường ngày mạo hiểm ấy đòi hỏi họ phải là những người dũng cảm ,gan góc có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc ,không sợ gian khổ hy sinh .

Mặc dù phải sống cách biệt , ở xa đồng đội , làm công việc nguy hiểm song cả ba cô gái ấy sống gắn bó cùng nhau và không hề mất đi những nét tính cách đáng yêu của những cô gái trẻ .Họ luôn yêu thương, lo lắng ,chăm sóc cho nhau , tâm hồn họ trong sáng , giàu mơ ước , dễ vui , dễ buồn và đặc biệt , họ rất thích làm đẹp cho cuộc sống của mình.

Chị Thao nhiều tuổi nhất , chăm chép bài hát , sợ máu và vắt. Nho thích thêu thùa , thích ăn kẹo , cô rất đáng yêu “trắng và tròn như một que kem mát lạnh”, có vẻ dịu dàng và gan góc . Người thứ 3 nổi bật nhất ,tiêu biểu cho tổ trinh sát mặt đường là Phương Định . Là một cô gái Hà Nội xinh xắn “hai bím tóc dày tương đối mềm ,một cái cổ cao , kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”và đôi mắt đẹp:“có cái nhìn sao mà xa xăm”.Vừa qua thời học sinh,cuộc sống chiến trường tôi luyện Định thành một chiến sỹ kiên cường , dũng cảm .Ngày nào Định cũng phá bom nhiều lần ,cô có nghĩ tới cái chết nhưng điều quan trọng hơn là “liệu mìn có nổ , bom có nổ không ?không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai ?”.

Tâm trạng Phương Định khi phá bom được miêu tả cụ thể ,tinh tế đến từng cảm giác .Từ sự cảm nhận không khí đầy căng thẳng đến cảm giác “các anh cao xạ đang dõi theo từng cử chỉ ,động tác của mình” và lòng dũng cảm như được tăng lên bởi sự tự trọng :“Tôi đến gần quả bom …tôi sẽ không đi khom, các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới ”.Cảm giác căng thẳng của Định khi ở bên quả bom , kề sát cái chết im lìm và bất ngờ được miêu tả tỉ mỉ đến từng chi tiết :“thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom .Một tiếng động sắc đến gai người ,cứa vào da thịt tôi …Vỏ quả bom nóng .Một dấu hiệu chẳng lành .”Đó là công việc hàng ngày đã quen của Định . Công việc hiểm nguy ấy khiến ba cô gái thanh niên xung phong trở nên thật phi thường ,thật đáng khâm phục .

Tuy vậy sự ác liệt của chiến trường không làm vơi đi đời sống tâm hồn trong sáng, giàu cảm xúc của Định .Cô hay mơ mộng, thích hát ,thậm chí “bịa lời ra mà hát ”thích dân ca quan họ ,thích hành khúc , thích Cachiusa , thích dân ca Ý…Định còn hay ngồi bó gối mơ màng, sống với những hồi tưởng về gia đình,quê hương…Cô ý thức về mình ,tự hào vì được nhiều người để ý nhưng lại tỏ ra hờ hững như là kiêu kỳ .Tuy vậy trong suy nghĩ và tình cảm của cô thì “những người đẹp nhất ,thông minh ,can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục,có sao trên mũ”. Định thực sự là cô thiếu nữ mộng mơ ,hồn nhiên ,trong sáng và dũng cảm.

Ngôi kể thứ nhất ,cách kể chuyện tự nhiên ,ngôn ngữ sinh động ,trẻ trung cùng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật đặc sắc của tác giả đã góp phần không nhỏ trong việc khắc hoạ thành công thế giới tinh thần phong phú và trong sáng của những cô gái trẻ .

Những trang cuối cùng của truyện khép lại nhưng dư âm của câu chuyện vẫn còn đọng mãi trong em .Vẻ đẹp tâm hồn của họ ,những chiến công lặng thầm của họ mãi toả sáng ,lung linh , lấp lánh và bí ẩn như những ngôi sao xa xôi.

Bài 3:  Đề bài: Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Qua nhân vật này, em có suy nghĩ gì về thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước?

Đọc “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, người đọc thấy khâm phục và yêu mến Phương Định trước hết bởi những nét tính cách đáng quý của cô. Nhưng không chỉ vậy, qua nhân vật này chúng ta còn cảm nhận được hình ảnh, tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ hào hùng gian khó.

 Thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thơ ca đã có nhiều chân dung quen thuộc và đáng yêu, đáng cảm phục: những chiến sĩ lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, những cô gái mở đường trong “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mĩ Dạ,… Và Lê Minh Khuê – một nhà văn thuộc thế hệ những tác giả bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mỹ – cũng đóng góp một chân dung như thế cho văn học nước nhà: cô gái Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”. Đó là một nữ chiến sĩ thanh niên xung phong xinh đẹp, trong sáng, giàu tình cảm và dũng cảm, ngoan cường.

Là một cô gái thanh niên xung phong có nhiệm vụ cùng đồng đội san lấp những hố bom trên tuyến đường Trường Sơn lửa đạn, ngày đêm đối mặt với đất bụi, khói bom nhưng Phương Định không hề mất đi vẻ trẻ trung, xinh đẹp của một cô gái mới lớn. Chị là người nhạy cảm và luôn quan tâm đến hình thức của mình. Chị tự đánh giá: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, vẻ đẹp ấy của chị đã hấp dẫn bao chàng trai ”các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm tôi”.

Nhưng điều đặc biệt ở Phương Định là không bị ”cái nết đánh chết cái đẹp”; ngược lại, chị đã để sự dũng cảm, ngoan cường và vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, giàu tình thương tôn thêm vẻ đẹp cho mình.

Phương Định cùng những người bạn của mình sống và chiến đấu trên một cao điểm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Chị phải chạy trên cao điểm đánh phá của máy bay địch. Sau mỗi trận bom, chị cùng đồng đội phải lao ra trọng điểm, đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nổ đặt vào cạnh nó để phá. Đó là công việc mạo hiểm với cái chết luôn gần kề tạo áp lực khiến thần kinh vô cùng căng thẳng. Thực hiện công việc đó, Phương Định và đồng đội phải vô cùng bình tĩnh và họ đã thực sự bình tĩnh, ung dung một cách lạ thường. Thậm chí, với họ, công việc ấy đã trờ thành bình thường: ”Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng có nhiều quả bom chưa nổ, nhưng nhất định sẽ nổ… Rồi khi xong việc, quay lại nhìn đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang”.

Mặc dù đã quen với công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thể phải phá tới năm quả bom nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách tột độ với thần kinh của Phương Định. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy căng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia cùng đang theo dõi từng động tác cử chỉ của mình để lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: ’’Tôi đến gần quả bom… đàng hoàng mà bước tới”. Ở bên quả bom, kề sát với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng… dấu hiệu chẳng lành”.

Sống giữa nơi sự sống và cái chết tranh giành nhau từng li một như thế nhưng Phương Định không để tâm hồn mình  mòn đi. Chị rất giàu tình cảm với đồng chí, đồng đội, quê hương và vô cùng lạc quan yêu đời.

Giống như hai người đồng đội trong tổ trinh sát, Phương Định yêu mến những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt, cô yêu mến và cảm phục tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng điểm của những con đường vào mặt trận. Phương Định đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về. Chị yêu thương và gắn bó với bạn bè nên có những nhận xét tốt đẹp đầy thiện cảm về Nho, phát hiện ra vẻ đẹp dễ thương ”nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn. Chị còn hiểu và đồng cảm sâu sắc với những sở thích và tâm trạng của chị Thao.

Phương Định cũng là người con gái có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ thân thương trong một căn buồng nhỏ nằm trên một đường phố yên tĩnh hồi ở Hà Nội còn thanh bình trước chiến tranh. Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô giữa chiến trường dữ dội. Nó là niềm khao khát làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường.

Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử thách hiểm nguy, giáp mặt hàng ngày với cái chết nhưng ở  Phương Định không mất đi sự hồn nhiên trong sáng và cả những mơ ước về tương lai: ’’Tôi thích nhiều bài hát, dân ca quan họ dịu dàng, dân ca Ý trữ tình giàu có”.

“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực và sinh động tâm lí nhân vật. Tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất tạo thuận lợi để tác giả miêu tả thế giới nội tâm qua việc để nhân vật tự sự về mình.

Phương Định là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn những ngày kháng chiến chô’ng Mĩ. Qua nhân vật này, chúng ta hiếu hơn thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.

Bước chân lên đường đánh Mĩ, những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ, có những người vừa rời ghế nhà trường. Tâm hồn các anh, các chị trong trẻo, đầy ước mơ, khao khát và đặc biệt là giàu lí tưởng. Chính những kỉ niệm êm đẹp về gia đình như kỉ niệm về người mẹ trên căn gác nhỏ của Phương Định hay những những kỉ niệm về bàn bè, mái trường,… là hành trang để các anh, các chị mang vào trận chiến. Sống giữa nơi đầu tên mũi đạn họ chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ một cách ngoan cường, dũng cảm. Ai bảo không có những phút giây yếu lòng, lo lắng? Ai bảo tâm hồn họ là thép là đá? Không. Con tim họ cũng biết run lên khi tiếng súng phát nổ. Thần kinh họ cũng căng ra khi quan sát trái bom… Nhưng điều đáng quý và điều làm nên sự khác biệt ở họ là các anh các chị đã giữ được tâm hồn trong trẻo, giàu yêu thương đối với gia đình, đồng đội, đất nước. Và rồi, chính những tình cảm cao đẹp đó đã trở thành động lực để họ chiến thắng những phút giây hiểm nguy, nao núng. Các anh các chị thực sự là “… những con người Việt Nam đẹp nhất / Biết căm thù và cũng biết yêu thương” như nhà thơ Tố Hữu từng ca ngợi. Không tiếc tuổi thanh xuân, họ hiến dâng trọn vẹn cho Tố quốc những gì quý giá nhất:

”Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ

    Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

      Đọc “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, người đọc thấy khâm phục và yêu mến Phương Định trước hết bởi những nét tính cách đáng quý của cô. Nhưng không chỉ vậy, qua nhân vật này chúng ta còn cảm nhận được hình ảnh, tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ hào hùng gian khó. Và đây cũng là thành công quan trọng nhất của tác phẩm giàu chất nhân văn này.

Bài 4:  Đề bài: Cảm nhận nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê.

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Đó là tinh thần của cả thời đại chống Mĩ. Đó là hình ảnh những anh bộ đội, những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đã đi vào văn chương và trở thành mạch nguồn cảm xúc xuyên suốt văn học một thời. Đó là những người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật; “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu; những cô gái mở đường trong “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mĩ Dạ…Cũng được khơi nguồn từ cảm hứng ấy, truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê lại đem đến cho người đọc những cảm xúc mới mẻ về hình ảnh những nữ thanh niên xung phong trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Họ vừa mang vẻ đẹp của những cô gái tuổi mười tám, đôi mơi hồn nhiên giàu mộng mơ, lại vừa mang vẻ đẹp của người lính giữa chiến trường gan dạ, dũng cảm không sợ hi sinh. In đậm nhất trong tâm trí bạn đọc là hình ảnh nhân vật chính, cô thanh niên xung phong, cô “hoa hậu” trong lòng bom đạn – Phương Định.

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Đó là tinh thần của cả thời đại chống Mĩ. Đó là hình ảnh những anh bộ đội, những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đã đi vào văn chương và trở thành mạch nguồn cảm xúc xuyên suốt văn học một thời. Đó là những người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật; “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu; những cô gái mở đường trong “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mĩ Dạ…Cũng được khơi nguồn từ cảm hứng ấy, truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê lại đem đến cho người đọc những cảm xúc mới mẻ về hình ảnh những nữ thanh niên xung phong trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Họ vừa mang vẻ đẹp của những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi hồn nhiên giàu mộng mơ, lại vừa mang vẻ đẹp của người lính giữa chiến trường gan dạ, dũng cảm không sợ hi sinh. In đậm nhất trong tâm trí bạn đọc là hình ảnh nhân vật chính, cô thanh niên xung phong, cô “hoa hậu” trong lòng bom đạn – Phương Định.
– Lê Minh Khuê là nữ nhà văn đã từng có năm tháng tuổi trẻ gắn bó với những con đường Trường Sơn mưa bom, bão đạn, từng chứng kiến, trải qua và chia sẻ những gian khổ, hi sinh của người lính giữa chiến trường. Bởi vậy những trang viết của bà về con người và cuộc sống nơi đây thật chân thực và xúc động vô cùng. Ở “Những ngôi sao xa xôi” cũng vậy, hiện thực cuộc sống giữa chiến trường và hình ảnh những nữ thanh niên xung phong với cuộc sống gian khổ một thời cứ hiện lên sống động sau từng câu chữ.
– Ấn tượng sâu đậm nhất mà Lê Minh Khuê để lại trong lòng bạn đọc ở “Những ngôi sao xa xôi” là hình ảnh những con người dũng cảm, có tinh thần trách nhiệm cao, có tình đồng chí, đồng đội sáng ngời, có tâm hồn trong trẻo, giàu mơ mộng, và nhạy cảm. Tất cả những vẻ đẹp ấy được thể hiện tập trung nhất ở nhân vật Phương Định, và chủ yếu qua đời sống nội tâm của cô.
Hoàn cảnh sống và chiến đấu đầy gian khổ:
– Phương Định cùng những người đồng đội của mình ở trong một cái hang dưới chân cao điểm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn, nơi tập trung nhiều nhất bom đạn, sự nguy hiểm và ác liệt, từng ngày từng giờ phải đối mặt với bom rơi, đạn nổ. Có biết bao thương tích vì bom đạn giặc: “Đường bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn. Hai bên đường không có lá xanh. Chỉ có những thân cây bị tước khô cháy. Những cây nhiều rễ nằm lăn lóc. Những tảng đá to. Một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất”. Đó là hiện thực đầy mùi chiến tranh, không có màu xanh của sự sống, chỉ thấy thần chết luôn rình rập.
– Công việc của các cô đặc biệt nguy hiểm. Họ phải chạy trên cao điểm giữa ban ngày, phơi mình ra giữa vùng trọng điểm đánh phá của máy bay địch để đo và ước tính khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom. Nhiệm vụ của họ thật quan trọng nhưng cũng đầy gian khổ, hi sinh, phải mạo hiểm với cái chết, luôn căng thẳng thần kinh, đòi hỏi sự dũng cảm và bình tĩnh hết sức.
Vẻ đẹp của Phương Định:
– Cuộc sống gian khổ giữa chiến trường ác liệt, công việc đầy nguy hiểm và luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng Phương Định vẫn giữ được sự hồn nhiên, trong sáng của tuổi trẻ, luôn thể hiện tinh thần dũng cảm không sợ hi sinh, lòng lạc quan và tình đồng đội gắn bó sâu sắc. Cô ngời sáng lên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ.
Lí tưởng sống cao đẹp, tinh thần dũng cảm:
– Vẻ đẹp của nhân vật Phương Định được tỏa sáng ở lí tưởng sống cao đẹp và tinh thần dũng cảm, không sợ gian khổ, hi sinh
+ Rời ghế nhà trường phổ thông, Phương Định xung phong ra mặt trận, cùng thể hệ của mình “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai” để giành độc lập, tự do của Tổ quốc. Cô ra đi mà không tiếc tuổi thanh xuân, nguyện dâng hiến hết mình cho đất nước:
“Ôi Tổ quốc!Nếu cần, ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…”.
+ Đối mặt với nguy hiểm, cô và những người đồng đội của mình thật sự là những anh hùng. Phương Định nghĩ về hoàn cảnh sống nơi đây một cách giản dị và cho là có cái thú riêng: “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ…”. Công việc phá bom đầy nguy hiểm và phải luôn đối mặt với thần chết được cô kể với giọng điệu bình thản, pha sự hóm hỉnh: “Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần”. Thật là biết đùa trước gian khó.
+ Đặc biệt, hi sinh mất mát của bản thân cũng được Phương Định coi hết sức nhẹ nhàng: “Tôi bây giờ vẫn còn một vết thương chưa lành miệng ở đùi. Tất nhiên Tôi không vào viện quân y”. Nếu không có cái nhìn lạc quan và một tinh thần dũng cảm thì Phương Định không thể có cách nói bình thản như thế.
+ Cuộc sống nơi chiến trường luôn đối mặt với thử thách, nguy hiểm và cái chết đã tôi luyện ở Phương Định lòng quả cảm, không sợ hi sinh. Tâm lí Phương Định trong một lần phá bom được miêu tả rất cụ thể, tinh tế đến từng cảm giác. Khung cảnh và không khí chưa đầy sự căng thẳng nhưng Phương Định vẫn có nét tâm lí rất con gái, cảm giác: “Có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình” để rồi sự dũng cảm ở cô như được kích thích bởi lòng tự trọng: “Tôi đến gần quả bom,… tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đường hoàng mà bước tới”. Ở bên quả bom, cận kề với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người cũng trở nên sắc nhọn: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Tiếp đó, là cái giây phút căng thẳng chờ đợi tiếng nổ của quả bom. Phương Định có nghĩ đến cái chết nhưng là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”, còn cái chính vẫn là: “liệu mìn có nổ, bom có nổ không?”. Đây là một trách nhiệm rất cao trong công việc, là lòng dũng cảm vô song. Có thể khẳng định rằng: Phương Định và những đồng đội của cô thực sự là những người anh hùng, nhưng là những anh hùng mà không tự biết. Chính điều đó, khiến cho nhân vật Phương Định trở nên đáng mến.
Tính hồn nhiên, mơ mộng, và tinh nghịch của Phương Định:
– Nét nổi bật và cũng là điểm hấp dẫn nhất ở Phương Định chính là vẻ đẹp của một tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và mơ mộng:
+ Phương Định là nữ sinh của thủ đô thanh lịch bước vào chiến trường. Cô có một thời học sinh – cái thời áo trắng ngây thơ, hồn nhiên và vô tư sống bên mẹ trong một căn buồm nhỏ ở một đường phố yên tĩnh. Những hoài niệm của cô về thời học trò thật đáng yêu, luôn sống trong cô ngay giữa chiến trường dữ dội. Nó vừa là niềm khao khát, vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh.
+ Sau những giây phút căng thẳng ở cao điểm, xong việc là thở phào chạy vào hàng, là sà ngay vào một thế giới khác – thế giới con gái với những mơ mộng: nằm dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ, có thể nghe, có thể nghĩ ngợi lung tung… Phương Định mê hát và thích nhiều bài hát: những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận; thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng; thích Ca-chiu-sa của hồng quân Liên Xô; thích ngồi bó gối mơ màng trước lời bài hát dân ca Ý trữ tình… Thích hát, Phương Định còn bịa ra lời mà hát, ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Rõ ràng, thích hát là nét tâm lí của thời đại – cái thời tiếng hát át tiếng bom, nhưng đây cũng là nét cá tính ở Phương Định hé lộ vẻ đẹp phong phú của tâm hồn. Trong tiếng hát, có ý thức về lý tưởng, có khao khát về quê hương, tình yêu của tuổi trẻ và có cả khát vọng được trở về cuộc sống thanh bình.
+ Cũng như bao cô gái mới lớn, Phương Định rất nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình. Phương Định đẹp với “hai bím tóc dày tương đối mềm, một cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn” và “đôi mắt nâu nâu dài dài hay nheo lại như chói năng, hay có cái nhìn xa xăm”. Biết mình đẹp, cô thích ngắm mình trong gương, có chút kiêu ngầm khi biết mình được các anh pháo thủ và lái xe thăm hỏi. Cô vui và tự hào về điều đó nhưng không hay biểu lộ tình cảm của mình mà thường rỏ ra kín đáo giữa đám đông. Lê Minh Khuê đã rất tinh tế khi phát hiện ra cái nét tâm lí kiêu ngầm ấy ở Phương Định. Đó là cái kiêu ngầm của một cô gái trẻ có ý thức sâu sắc về vẻ đẹp cuộc sống. Chính nét tâm lí rất đời thường, rất con gái này khiến nhân vật Phương Định càng trở nên gần gũi, chân thực và đáng yêu.
+ Vẻ đẹp tâm hồn Phương Định ngời sáng nhất khi cơn mưa đá bất ngờ ập đến. Chỉ một cơn mưa đá mà bao ngột ngạt, căng thẳng, hiểm nguy của chiến trường tan biến, để nhường chỗ cho niềm vui con trẻ òa nở, cuống cuồng:” Mưa đá!Cha mẹ ơi!Mưa đá!”. Chỉ một trận mưa đá vụt đi qua cũng đánh thức ở Phương Định rất nhiều kỉ niệm và nỗi nhớ về thành phố, quê hương, về gia đình, về tuổi thơ thanh bình của mình. Sau cái say sưa của niềm vui con trẻ là nỗi nhớ da diết khôn nguôi. Nhớ rất nhiều: người mẹ, cái cửa sổ ngôi nhà, những ngôi sao to trên bầu trời thành phố, cái cây, vòm trời của nhà hát, bà bán kém và đám trẻ háo húc vây quanh; con đường nhựa sau cơn mưa, những ngọn đèn trên quảng trường lung linh như những ngôi sao trong truyện cổ tích nói về xứ sở thần tiên… Tất cả vừa rõ ràng, vừa mờ ảo; vừa đồng hiện, vừa vụt hiện trong tâm trí; vừa gần gũi, vừa xa xôi. Những hòai niệm làm dịu cơn khát, những cơn khát cháy lòng, những hi vọng xa xôi. Tất cả ào đến, xoáy mạnh cũng mãnh liệt, dữ dội như con mưa đá. Tất cả làm thành hành trang tâm hồn của cô thanh niên xung phong, tiếp cho cô sức mạnh, thắp cho cô niềm tin và tỏa sáng vẻ đẹp của người chiến sĩ Trường Sơn, của những ngôi sao xa xôi.
Tình đồng chí, đồng đội nồng ấm:
– Ở Phương Định nét đẹp còn được ngời sáng trong tình đồng đội thắm thiết. Cô luôn yêu thương trìu mến và quan tâm đến đồng đội. Cô lo lắng cho chị Thao và Nho lên cao điểm chưa về đến nỗi “nói như gắt vào máy” khi đại đội trưởng hỏi tình hình. Cô hiểu chị Thao và Nho như biết về những chị em ruột thịt. Đó là chị Thao sợ máu và vắt nhưng khi chiến đấu lại rất dũng cảm. Trong cuộc việc, ai cũng gờm chị bởi sự bình tĩnh, cương quyết, táo bạo. Với Nho, cô em út của tổ trinh sát thì Phương Định rất muốn bế trên tay. “trông nói nhẹ mát như một que kem trắng. Biết bao trìu mến, yêu thương trong cái nhìn ấy. Khi Nho bị thương, cô vỗ về và chăm sóc như một người y tá: “moi đất, bế Nho đặt lên đùi”,”rửa cho Nho bằng nước đun sôi trên bếp than”,”tiêm cho Nho” rồi “pha sữa trong cái ca sắt…”. Đặc biệt, cô dành tình yêu và niềm cảm phục cho tất cả những chiến sĩ mà cô gặp ngày đêm trên con đường ra mặt trận. Với cô “những người đẹp nhất, thông minh, cam đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”.
-> Tình đồng chí đồng đội của Phương Định thật thiêng liêng, cao cả và đáng quý! Chính điều đó đã tiếp thêm sức mạnh cho cô để cô hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
– Có thể nói, xây dựng nhân vật Phương Định, Lê Minh Khuê đã chọn được những phương thức trần thuật hợp lí khi nhà văn đặt điểm nhìn vào nhân vật chính của mình để nhân vật tự kể chuyện. Nhờ vậy, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật – tâm lí Phương Định đạt đến độ tinh tế nhất. Ngôn ngữ trần thuật qua nhân vật chính làm cho tác phẩm có giọng điệu, ngôn ngữ tự nhiên gần với khẩu ngữ, trẻ trung, nữ tính. Lời kể linh hoạt, cùng câu ngắn dài, nhịp nhanh tạo không khí chiến trường, nhịp kể chậm lại khi hồi tưởng như gợi nhớ kỉ niệm của tuổi thơ êm đềm… Tất cả góp phần tạo nên một nhân vật chính- một Phương Định thật như ở ngoài đời và một Phương Định rất Hà Nội.
– Qua dòng suy nghĩ và tâm trạng của nhân vật Phương Định, cuộc sống chiến đấu của các cô thanh niên xung phong được tái hiện đầy đủ, chân thực và sinh động với vẻ đẹp tỏa sáng. Hình tượng về những nữ thanh niên xung phong Trường Sơn không hiếm trong văn học chống Mĩ, song với những sáng tạo riêng của mình, Lê Minh Khuê trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng giàu mơ mộng, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, sự hi sinh và rất lạc quan của họ. Đó là hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho thể hệ trẻ Việt Nam đã sống và chiến đấu, hi sinh tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc thân yêu:
“Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”.
( “Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm).
– Đọc truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” khám phá vẻ đẹp nhân vật Phương Định, ta yêu mến, tự hào về các cô thanh niên xung phong, Phương Định, Nho,chị Thao, mười cô gái ngã ba Đồng Lộc và bao nhiêu cô gái mở đường khác trên tuyến lửa Trường Sơn đã “Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng” (Tố Hữu). Vẻ đẹp của họ mãi mãi tỏa sáng như vì sao lấp lánh trên bầu trời, trong sự cảm phục và lòng biết ơn của cả dân tộc:
“Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói lung linh”
(“Khoảng trời hố bom” – Lâm Thị Mĩ Dạ)

Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê đã đem đến cho người đọc những cảm xúc mới mẻ về hình ảnh những nữ thanh niên xung phong trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Họ vừa mang vẻ đẹp của những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi hồn nhiên giàu mộng mơ, lại vừa mang vẻ đẹp của người lính giữa chiến trường gan dạ, dũng cảm không sợ hi sinh. Trên đây là tổng hợp tuyển chọn những bài văn hay cảm nhận về tác phẩm Những ngôi sao xa xôi để các bạn tham khảo. Chúc các bạn làm bài tốt! 

 

Hướng dẫn làm thơ lục bát và song thất lục bát hay dành cho mọi lứa tuổi

Nói đến thơ lục bát chắc hẳn ai cũng từng được đọc và được nghe bởi nó vẫn luôn hiện lên xung quanh cuộc sống của chúng ta hàng ngày. tiepsucmuathi.edu.vn xin hướng dẫn cho các bạn cách làm thơ lục bát hay và ý nghĩa qua bài viết dưới đây. Các bạn cùng tham khảo nhé!

Hướng dẫn làm thơ lục bát và song thất lục bát hay dành cho mọi lứa tuổi

Thơ lục bát và thơ Song thất lục bát là hai thể thơ của dân tộc Việt Nam chúng ta. Chúng ta chẳng còn xa lạ gì với thể lục bát, vì nó là những bài ca dao hàng ngày ta vẫn nghe ông bà ngâm nga, thơ song thất lục bát thì ta đã được học trong chương trình lớp 10 ở trường phổ thông. Sau đây ta cùng tìm hiểu về cách làm hai thể thơ này để phát huy thêm một nét văn hoá của người Việt chúng ta.  Từ đó học hỏi được cách làm thơ lục bát hay và ý nghĩa nhé.

I. CÁCH LÀM THƠ LỤC BÁT
Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác. Thơ lục bát tuân thủ luật về thanh và vần rất nghiêm ngặt, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hòa. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.
A – Luật thanh trong thơ lục bát
Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:
Câu lục: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6 là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng
Câu bát: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6-8 là B-T-B-B

Ví dụ:
Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân  B – T – B
Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều B-T-B-B
Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T-B-T-B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể.
Ví dụ:
Có sáo thì sáo nước trong T-T-B

Đừng sáo nước đục đau lòng cò con T-T-B-B

hay:

Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non T-B-T-B

B – Cách gieo vần trong thơ lục bát

Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần.
Cách gieo vần: Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát kế nó. Và tiếng thứ tám câu bát đó lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục kế tiếp. Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo  ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Trong thể thơ lục bát biến thể vẫn gieo vần như vậy, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.
Ví dụ:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Tiểu đối trong thơ lục bát:
Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) cảu câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại.

Ví dụ:

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng  lời chung.

Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát:
Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3. Nhịp thơ giúp người đọc và người nghe cảm nhận được thơ một cách chính xác hơn.

II. CÁCH LÀM THƠ SONG THẤT LỤC BÁT

Thơ song thất lục bát là thơ gồm có 4 câu đi liền với nhau, trong đó là hai câu 7 tiếng (câu thất 1 và câu thất 2), kế tiếp là câu lục và câu bát.
Về luật vần ở câu lục và bát thì hoàn toàn là giống thơ lục bát, không đề cập đến. Tôi chỉ đề cập đến hai câu thất. Luât thanh không phải ở các từ 2-4-6 như các thể thơ khác mà lại chú ý vào các tiếng 3-5-7.
Câu thất 1: các tiếng 3-5-7 theo thứ tự là T-B-T

Câu thất 2: các tiếng 3-5-7 theo thứ tự là B-T-B

Các tiếng 1-2-4-6 tự do về thanh.
Ví dụ:

Lòng này gửi gió đông có tiện T-B-T

Nghìn vàng xin gửi đến non yên B-T-B

Về cách gieo vần cũng khác các thể thơ khác. Các thể thơ khác chỉ gieo vần ở thanh bằng, nhưng thơ song thất lục bát gieo vần ở cả tiếng thanh trắc và thanh bằng.
Tiếng thứ 7 của câu thất 1 thanh trắc vần với tiếng thứ 5 thanh trắc của câu thất 2. Tiếng thứ 7 của câu thất 2 thanh bằng vần với tiếng thứ 6 câu lục kế.
Ví dụ:

Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trời.

Trong bài thơ có nhiều câu thơ song thất lục bát thì để nối hai nhóm câu lại về vần thì ta lấy tiếng thứ 8 thanh bằng của câu bát vần với tiếng thứ 5 thanh bằng của câu thất 1 kế tiếp.
Ví dụ:

Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu…

Cách ngắt nhịp trong 2 câu thất của thơ này là nhịp lẻ, tức là nhịp 3/4 hay là 2/1/4.

Một số câu thơ lục bát hay và ý nghĩa:

THƠ LỤC BÁT MÙA HẠ

Hạ đến gọi khúc chia xa
Hạ đến gọi phượng nở hoa gọi hè
Hạ đến rộn rã tiếng ve
Hạ đến gọi nắng trưa hè gắt gao
Hạ về vàng nắng hanh hao
Hạ về gọi nắng gió Lào nồng oi
Hạ về giọt nắng đưa thoi
Hạ về cây rủ bóng soi rũ cành
Hạ mang ta nắng vàng hanh
Hạ mang bằng tím trên cành rộ hoa
Hạ mang áo trắng chia xa
Hạ mang mơ mộng tình ta học trò
Hạ ơi ta nhớ phượng rơi
Hạ ơi ta nhớ cái thời trắng tinh
Hạ ơi trong nắng lung linh
Hạ ơi phượng lỡ dứt tình bay xa
Hạ rời ta mãi bôn ba
Hạ rời thu tới lá xa lìa cành
Hạ rời gọi tiết trời xanh
Hạ rời gọi mãi tình anh cùng nàng.

SẮC ĐỎ HẠ THƯƠNG

Hạ về phượng thắm hàng cây
Sân trường ngập nắng tung bay áo dài
Hẹn nhau lưu bút trao tay
Mùa vương vấn củ mắt ai lén nhìn
Hạ ơi mùa của chúng mình
Viết trang nhật ký tự tình chia xa
Luyến lưu rơi rớt giọt ngà
Phút giây bịn rịn rời xa không đành
Khi không gọi hắn bằng anh
Đường xưa từng bước song hành bên nhau
Vẫn thường gọi hắn mày tao
Bây giờ bẽn lẽn gặp nhau cuối đầu
Tiếng ve vang khúc nhạc sầu
Còn đâu mùa củ đưa vào câu thơ
Áo ai trắng mãi dại khờ
Để cho một kẻ ngẩn ngơ trong lòng
Với tay đón cánh phượng hồng
Bâng khuâng dừng bước phiêu bồng chiều nay
Tình thơ chưa kịp trao tay
Hạ ơi nỗi nhớ vẫn đầy trong tim.

HẠ VỀ

Mùa xuân cất cánh bay rồi
Hạ đang rừng rực lên ngôi đất trời
Dát vàng rực rỡ muôn nơi
Ẩn trong trái chín, nhuộm ngời hương hoa.
Ve sầu ngân vọng khúc ca
Phượng hồng rực lửa chia xa bạn bè
Tháng tư mới chớm sang hè
Mà sao lòng bỗng nghe tê tái lòng.
Hạ về mây trắng thong dong
Rủ đàn ong mật dạo rong vườn nhà
Rủ cơn gió đến la đà
Rủ cơn mưa xuống cho ngà ngà say.
Hạ về chắp cánh diều bay
Tuổi thơ tỉnh giấc chợt lay mình về…!

HÈ VỀ

Tìm về Hạ cũ quanh co
Hỏi ngày xưa có buồn xo tháng ngày
Nắng vừa khẽ chạm bàn tay
Chợt mưa rơi đến ướt vai mất rồi
Nhớ hoài mùa cũ trong tôi
Áo em trắng mộng bồi hồi ngẩn ngơ
Chiều nay ngắm cánh phượng mơ
Bỗng đâu thấy lại bài thơ năm nào
Thẹn thùng viết – ngại ngùng trao
Để giờ năm tháng ngã màu thời gian!
Xa nhau buổi ấy hè sang
Tiếng ve gọi mãi theo hàng phượng đưa
Hạ ơi! thương mấy cho vừa
Nhớ ơi! còn đấy giọt thưa, giọt gầy
Về thăm niệm khúc chiều nay
Nghe chút rong ruổi theo ngày tháng xưa!

GỌI HÈ

Men theo vạt nắng ta đi
Xểnh tay rơi rớt những gì còn xuân
Hoàng hôn sao lắm trái ngang
Chiều chưa tắt nắng vội mang đêm về
Gọi em rung chuyển cơn mê
Ai ơi lẻ bạn tìm về cố nhân
Mai kia trả nợ sắc cầm
Hỏi phù sa chớ trách lầm dòng sông
Ai gọi kí ức phải không..?
Chỉ cho ta với.. yêu thương chỗ nào
Men về bước thấp bước cao
Tìm em nơi chốn ồn ào trường xưa
Ra sông gom mớ thực hư
Tưới vào gốc phượng coi như gọi hè.
Hướng dẫn làm thơ lục bát và song thất lục bát hay dành cho mọi lứa tuổi
Trong tâm hồn của mỗi người chúng ta ai cũng chất chứa những vần thơ nhưng lại chưa biết cách để làm thơ. tiepsucmuathi.edu.vn đã hướng dẫn các bạn làm thơ lục bát, hi vọng sau khi tham khảo bài viết các bạn sẽ tự làm thơ lục bát hay và ý nghĩa cho riêng mình. 

Bài văn hay cảm nhận của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Ca ngợi tinh thần lao động không còn là một chủ đề xa lạ với chúng ta, nhưng trong lĩnh vực thơ ca liệu rằng có bao nhiêu tác phẩm làm rung động được tâm hồn độc giả?  Có lẽ những ai yêu thơ ca về tinh thần lao động sẽ không thể nào quên được bài thơ Đoàn thuyền đánh cá – một trong những tác phẩm nổi tiếng của Huy Cận.

Huy Cận viết bài thơ này vào năm 1948 tại vùng biển Quảng Ninh . Bài thơ ra đời trong 1 thời kì sôi nổi: miền bắc nước ta , xây dựng và phát triển kinh tế , văn hóa. Cho nên đây là 1 áng thơ hay , nổi bật lên đời sống lao động . Nói lên 1 hành trình khép kín của 1 chuyến ra khơi đánh cá và trở về. Hình ảnh thơ kì vĩ, lớn lao, nhịp điệu khỏe khoắn , vươn dài , giọng thơ lãng mạn tự tin, say sưa, thể hiện được tâm hồn tình cảm của con người lao động xã hội chủ nghĩa mới .Và bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh làm lay động tâm hồn mỗi người:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa

Điểm nhìn nhà thơ đây là 1 điểm nhìn tưởng tượng, phải ở rất xa bờ mới thấy được vùng biển phía tây nơi mặt trời đang lặn xuống giống như hòn lửa khổng lồ Cảnh này chỉ có thể thấy được trong buổi chiều hè . Giác quan của nhà thơ mở ra trong trí tưởng tượng của người đọc những liên tưởng so sánh bất ngờ thú vị: Vũ trụ bao la huyền bí như 1 cái nhà không là mà đêm tối cánh cửa sập xuống , là những con sóng vỗ rì rầm lúc trời đêm . Cái quang cảnh kết thúc thật thú vị với hình ảnh nhân hoa sóng và đêm này. Chính thời điểm này vũ trụ bao la đã đến giờ đi ngủ . Mọi người đều đang trong những giây phút nghỉ ngơi sau những ngày dài lao động nặng nhọc . Vậy mà đoàn thuyền đánh cá mới bắt đầu khởi hành

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng giớ khơi

Từ lại cho thấy đây là sự tiếp diễn liên tục nhịp điệu lao động của họ . Cảnh ra khơi khi hoàng hôn xuống này diễn ra rất thường xuyên Cho thấy đời sống lao động thất vất vả . Đời sống nghèo khổ đã đưa họ vào con đương cơ cực . Người người được nghỉ ngơi thì họ phải lao động lại làm việc để đem lại hạnh phúc cho người thân , gia đình và xã hội . Nhưng nêu như thuyền được trang bị những dụng cụ đánh bắt tối tân hiện đại thì việc đánh cá há sợ gì khổ . Vậy mà thuyền ở đây lại rất tồi tàn , lạc hậu . Chỉ có chiếc buồm căng với gió . Buồm căng là 1 hình ảnh rất thực . Thực vì gió mạnh trên biển khơi đã đẩy thuyển đi thông qua cánh buồm . Nhưng ta nghe câu hát căng buồm thi lại hư ảo . Tuy vậy chính cái hư ảo ấy lại biểu hiện được cái gì đó thực , đó là khí thế mạnh mẽ của con người trong lao động tập thể . Tiếng hát đó chính là sự thể hiện niềm vui của những người đánh cá , khi họ cảm nhận rõ ràng sức mạnh vĩ đại của tập thể trong lao động thì nó sẽ nảy sinh lên những điều kì diệu mà 1 vài cá nhân đơn lẻ không thể nao làm được . 1 mùa màng bội thu , cùng nhau chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt . Nghĩa là cứ mỗi lần ra khơi thì niềm vui lao động lại tới . Có khác chi kiểu nói của Chế Lan Viên

Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ

Chỉ 1 tiếng hát thôi mà đã nói được bao điều về thân phận , về sự tự ý thức của con người qua 2 chế độ. Cũng không còn nữa cái cảm nhận từ nghìn xưa về sự nhỏ bé yêu đuối của con người trước biển cả chứa đầy sức mạnh tàn phá , hủy diệt vô cùng dữ dội . Tiếng hát của họ chính là tiếng hát của con người chinh phụ biển khơi

Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thơi
Đêm ngày dệt biển muôn luồn sáng
Đến dệt lưới ta đòan cá ơi

Biển cá thật đẹp đẽ , giàu có và thân thiết biết bao đối với con người . Trong câu thơ thứ 1 từ ” bạc ” là 1 định ngữ nghệ thuật , có ý nghĩa số lượng cá rất nhiều , phong phú , quý giá của biển và nhằm tô đậm thếm nét đẹp của câu thư 2 . ” cá thu biển đông như đoàn thoi” . Anh Tài sử dụng biện pháp so sánh thật tài tình xây dựng trên1 liên tưởng thực tế : cá thu mình lấp lánh ánh trưang lướt rất nhanh trên mặt biển như đoàn thoi trên khung cửi dệt vải vậy ! Từ đó ta mới hiểu được 2 câu thơ sau là những nhân hóa rất tinh tế Trong lòng và trong sự tưởng tượng của những người lao động , yêu quí biển cả thân thương thì họ đã cảm nhận rằng chính cá đi trên biển là cá đã dệt biển, cá vào lưới là cá đã làm nên lưới ấy. ” Đến dệt lưới ta ” vang lên thật tự hào, kiêu hãnh trong suốt bài thơ , không còn là cái tôi nhỏ bé , đơn côi như ngày xưa nữa mà đã là 1 tập thể đầy sức mạnh , đã đạt đến vô hàn tiềm lực của mỗi người . Dường như đó là sức mạnh chính tạo nên cái phơi phới của đoàn thuyền giữa trùng khơi

Thuyền ta lái gió buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển rằng

Đoàn thuyền ấy có gió làm lái , có trăng làm buồm. Dường như thiên nhiên cũng hòa vào không khí lao động khẩn trương của đòan thuyền . Đòan thuyền ấy lướt giữa mây cao với biển bằng, lướt giữa 1 không gian bao la và khoáng đạt . Thiên nhiên như mở cửa ra , bát ngát mênh mông, trên là trời cao có trăng sáng tỏ , dưới là biển rộng bao la và ở giữa là đoàn thuyền đang lướt nhanh giữa không gian cao rộng ấy . Con thuyền như đã hòa nhập vào thiên nhiên nhưng ko mất hút. Giữa không gian bao la , con thuyền không hề bị lấn át , không hề trở nên nhỏ nhoi kém cạnh trái lại trở thành 1 hình ảnh trung tâm vừa đẹp vừa khỏe khoắn và thơ mộng. Đòan thuyền càng đẹp khi được tô điểm thêm những nét giản dị ấy . Và đòan thuyền này dường như không chỉ của ta , của con người nữa rồi mà nó đã trở thành 1 phần của thiên nhiên . Dường như thiên nhiên đã cùng với con người chỉ huy điều khiển con thuyền lướt nhanh trên mặt sóng . Nếu như ở khổ thơ đầu , thiên nhiên đã chìm vào trạng thái nghỉ ngơi mặt trời xuống biển , sóng đã cài then , đêm sập cửa . Thì ở đây con người đã đánh thức được cả thiên nhiên , vũ trụ để cùng bước sáng 1 ngày mai mới . 1 ngày lao động mới hứa hẹn sẽ đem lại nhiều thành công . Lòng tin yêu con người , và lòng cảm thương sâu sắc cùng với trí tưởng tượng bay bổng đã giúp nhà thơ xây dựng được 1 hình ảnh tuyệt đẹp giàu ý nghĩa . Trong mối quan hệ giao hòa , thiên nhiên càng huy hoàng , kỳ vĩ bao nhiêu thì càng tôn trọng vẻ đẹp con người lên bấy nhiêu . Tầm vóc của họ đã sánh ngang với trời biển , vũ trụ . Bởi tinh thân lao động hăng say và các công việc vất vả của người đánh cá . Tất cả đã nói đến trong 2 câu thơ tiếp

Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng

Họ được tự do , chủ động tìm đến những vùng biển xa để thăm dò nới nào nhiều cá . Và giữa biển khơi mênh mông , khi đa tìm được luồng cá , những chiếc thuyền sẽ tỏa ra , thả lưới bủa vây . Đó là những công việc nhưng hoạt động bình thường của người dân chài Nhưng qua cách miêu tả của tác giả ta thấy những hoạt động đó giống những hoạt động chuẩn bị cho 1 trân đánh . Người dân chài bước bào lao động bình thương như bước vào 1 trận chiến sinh tồn với những tấm lưới , đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt chốn biển sâu , với những nguy hiểm ẩn cư dưới lòng nước

Huy Cận không chỉ phong phú về cảm xúc thẩm mĩ mà còn về vốn sống . Bài thơ đã cho thấy ông hiểu biết khá tường tận về công việc của những người đánh cá , ông cảm nhận được những gì đang diễn ra trong tâm hồn của những con người hồn hậu, bình dị và rất đáng yêu mến ây. Khi lưới đã bủa vây . Ông hiểu hết tâm tư tình cảm của những người trong lúc ngóng trông này

Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đèn hồng
Cái Qđuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thơ sao lùa nước Hạ Long

4 câu thơ 28 từ thôi mà đã hiện lên quang cãnh mờ ảo , có sự pha trộn giữa thực tế và ảo mộng làm cho biển đêm có vẻ đẹp thật lãng mạn , huyền ảo . Cái thực là sự đa dạng về muôn ngàn loài cá ” cá nhụ cá chim cùng cá đé ” xen lẫn với cái ảo những con cá song lấp lánh như những ngọn đuộc hông giữa biển đêm thăm thẳm . Huy Cận cũng đã từng viêc” Cá song đốt đuốc dẫn thơ vào” và bây giờ ông lại viếc ” cá song lấp lánh đuôc đen hồng ” Câu thơ đủ thây màu sắc rực rỡ của cá song đặc biệt hình ảnh đuôi cá lại càng độc đáo

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Cá song đã rực rỡ trong muôn ngàn cá đẹp rồi. Đã vậy cá còn cử động vô cùng mềm mại m uyển chuyển như múa tạo nên nét thơ mộng làm tâm hồn nhà thơ rung động và bật lên tiếng em trìu mên . Hình ảnh đã nên thơ rồi mà còn thêm cách gọi em đã biểu hiện niềm say mê cuộc sống thật hồn nhiên và mãnh liệt của những người đánh cá , và trước hết là của nhà thơ . Nhà thơ mở rộng hồn mình để đón nhận bao điều kỳ diệu của cuộc sống , đã thỏa mãn được cái thị giác của mình , để cảm thấy nhịp thơ của biển đêm qua những đợt sóng dân lên và hạ xuống đầy ánh sao. Biển và trời như đã hòa vào nhau và hình thành nên khung trời ước mơ . Con người càng nổi bật lên giữa khung trời lung linh ấy Một lần nữa tiếng hát của họ lại cất lên giữa bao la biển cả

Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào

Có biết bao âu yếm và thân thiết với biển khơi , với vũ trụ mênh mông , huyền diệu trong tiếng hát ấy . Tiếng hát còn biểu hiện niềm vui trong lao động tập thể của họ , biểu hiện niềm mong muốn sẽ bắt được nhiều cá để mang lại thu nhập , cải thiện đời sống gia đình . Cảm xúc thật phóng khoáng , bay bổng , chan chứa niềm yêu đời : Luôn luôn làm việc rất khẩn trương , luôn tay gõ nhịp dồn cá vào lưới mà vẫn không quên đến biển cả , đến vẻ đẹp thiên nhiên kề cạnh ” Đã có nhịp trăng cao ” Vầng trăng trên trời cao đã được nhân hóa gây nên cảm giác vô cùng gần gũi , thân thiết . Trăng như đồng cảm với tâm trạng nào nức của con người , trăng đã hòa theo nhịp gõ và nhịp tiếng hát của người đánh cá . Đó thật sự là 1 bài ca lao động vừa hào hùng vừa hào hùng vừa gg Và bài ca say đắm nhất là bài ca về sự giao hòa , xiết bao thân thiết , ưu ái của con người và biển cả ” biển cho ta cá như lòng mẹ” 1 so sanh thật đẹp . Mẹ là người sinh ra ta , nuôi nấng dạy bảo ta thành người . Biển cũng vậy . Biển cho ta cá như nguồn sữa mẹ và nuôi lớn đời . Biển luôn luôn ưu đãi cho con người . Ta thấy ở đây toát lên lòng yêu mến , sự khâm phục và biết ơn đối với biển cả của những người đánh cá và của cả nhà thơ trước nguồn tình cảm yêu thương vô hạn đã nuôi dưỡng mỗi con người . Một lần nữa biển lại được khẳng định vai trò của mình . Biển không chỉ đẹp đẽ giàu có mà còn rất ân tình . Biển không chỉ nuôi dưỡng cho con người hôm nay và mai sau mà biển đã ” nuôi lớn đời ta từ buổi nào ” . Từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất Biển và ta đã gắn bó hòa quyện với nhau như thế. Con người tồn tại được là 1 phần nhờ sự giúp đỡ của biển . Trái đất có sự sống là do biển đã mang lại. Nhưng đêm đã sắp tàn rồi , 1 ngày mới đang đến hứa hẹn nhiều bất ngờ thú vị

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vấy bạc , đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp , buồm lên đón nắng hồng

Sao mời đi , trời sắp sáng , mẻ lưới cuối cùng đã được kéo lên Công việc không nhẹ nhàng chút nào . với câu chữ gân guốc giàu sức tạo hình ” Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng ” Chỉ 1 từ xoăn thôi mà tả được những bắp tay rắn chặt , nổi cuồn cuộc khi kéo lưới , đã nói được cái hăm hở , hồ hởi của những người lao động mong muốn thấy được kết quả công việc của mình . Rồi trời không phụ lòng người . Chùm cá nặng . Lưới đã rất nhiều cá đúng với ao ước mong muốn của họ . Và câu thơ thứ 3 miêu tả thật đẹp những con cá đang được kéo lên , đuôi chúng lấp lánh ánh bình minh rạng rỡ. Ở những từ  “bạc”   “vàng” vừa là những định nghĩa thông thường chỉ màu sắc vừa là những từ ngữ nghệ thuật tượng trưng cho sự quý giá , giàu có của biển cả, đồng thời cho thấy thái độ trân trọng trước thành quả lao động của mình , dường như đó còn là niềm biết ơn của trước sự hào phóng ưu ái của biển cả đối với con người . Trời đã bừng sáng , 1 ngày mới đã đến mang lại nhiều điều tốt đẹp như họ đã nguyện ước . Không ham muốn gì thêm nữa . Thế là quá đủ rồi , công việc đã kết thúc tốt đẹp họ chuẩn bị trở về . Nhưng từ ” đón ánh hồng ” biểu hiện tâm trạng sảng khoái , phấn chấn của họ , họ như muốn chia sẻ niềm vui của mình với anh bình minh, với mặt trời 1 người bạn thiên nhiên cũng rất thân thiết với con người

Thực ra bài thơ có thể kết thục ở đây vì hình tượng thơ đã phát triên , nâng cao trọn vẹn . Cả đoạn thơ là bức tranh sơn mài rực rỡ sắc màu , màu của trăng sao , sóng nước , màu của những con cả vẩy bạc đuôi vàng , màu của những người lao động xoăn tay kéo lưới , màu của giọt mồ hôi làm việc cực nhọc …. Nhưng dòng cảm xúc của Huy Cận vẫn chưa nguôi . Bởi thuyền đã ra đi thì cũng phải có ngày trở về . Nên tác giả đã viết nên nhưng dòng thơ lắng động

Câu hát căng buồm với gió khơi
Đòan thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hòang muôn dặm phơi

1 lần nữa dòng thơ lay động thắm thia được lặp lại gân như là nguyên văn ” câu hát căng buồm với gió khơi” . Có cảm giác đó như 1 điểpkhúc trong bai hát, bài hát ca ngợi niềm say mê lao động trên biển quê hương . Đây là lần thứ 3 tiếng hát vang lên trong lòng người dân chài lưới .. Có khác chăng tiếng hát đã biểu lộ cảm xúc của họ . Biểu lộ niềm vui khi thu được thành công rực rỡ sau 1 đêm lao động vất vả . Đó là niềm vui chiến thắng của con người . tất cả đều đang lâng lâng trên niềm sung sướng ấy , và dường như đã lan sang cả con thuyền . Con thuyền như tiếp thêm luồng sinh khi mới và đã sánh vai cùng mặt trời

Đòan thuyền chạy đua cùng mặt trời

Hình ảnh thật hào hùng . Huy Cận thật tài tình khi 1 lần nữa đã đưa hình ảnh cao cả vào vần thơ giản dị của mình . Mặt trời . Đây là 1 nhân hóa mang tính chất nghệ thuật siêu việt. Những người đánh cá thức suốt đêm để làm việc không mệt mỏi nhưng họ vẫn quyết tâm trở về trước khi trời sáng . Để người dân có cá ăn vào lúc trưa hè . Khí thế lao động của họ thật mạnh mẽ , sức lực thật dồi dào . Họ chạy đua với thời gian không gian . Họ chạy đua với đối tượng thiên nhiên là mặt trời , với đích đến là trước bình minh . Đặt trước 1 tình cảnh như thế , được so sánh với vật thể lớn lao đến thế . Hình ảnh con thuyền càng nổi bật hơn , càng nâng cao tầm vóc của con người trước vũ trụ rộng lớn bao la . Nhưng rồi chuyện gì đến đã sẽ đến . Mặt trời đã đội biển khô máu mới . Lại thêm 1 nhân hóa nữa và đối tượng cũng chính là mặt trời. Nhân hóa này gây cảm giác thật thần thoại, hư ảo. Sức mạnh của mặt trời thật vô cùng mạnh mẽ . Đã đội biển mà lên . Câu thơ đã làm tòan cảnh biển sáng lên 1 màu mới , màu hồng của bình minh , màu hồng của rực rỡ tươi vui, màu hồng như lời chào đón ân cần khi đòan thuyền khi trở về. Và cái thần của quang cảnh bình minh ấy nổi bật lên ở câu thơ cuối cùng:

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Đến đây như say trong dòng liên tưởng. Mắt ta như hoa lên giữa 2 hình ảnh trong dòng suy nghĩ của mình. 1 là hình ảnh đòan thuyền nối đuôi nhau trở về , chiếc nào cũng có cá đầy khoang , hàng triệu mắt cá phản ánh với vầng hào quang của mặt trời rực rỡ . 2 là hàng triệu gợn sóng cùng phản chiếu ánh bình minh sặc sỡ giống như vô vàn mắt cá trên muôn dặm khơi . Dù là hình ảnh thì câu thơ cũng thể hiện được vẻ đẹp bao la , hùng vĩ và sự giàu có , phong phú của biển cả , của thiên nhiên đất nước dưới con mắt của những con người thực sự làm chủ được tổ quốc của mình

Có lẽ khổ cuối là khổ thơ hay nhất trong bài , đã miêu tả đoàn thuyền trở về trong ánh bình minh . 4 câu thơ đã dựng nên quang cảnh kì vĩ về cuộc chạy đua giữa đòan thuyền đánh cá với mặt trời trên biển cả , qua đó thêm 1 lần nữa Huy Cận khắc họa thật đậm nét vẻ đẹp khỏe mạnh của những người đánh cá và vẻ đẹp giàu có , hùng vĩ của biển trời , của thiên nhiên tổ quốc . ý thơ phảng phất không khí thần thoại anh hùng ca trong lao động

Đòan thuyền đánh cá mang âm điệu ngọt ngào , niềm vui say mê và phấn chấn của nhân dân lao động làm chủ cuộc đời . Qua bài thơ ta như được sống trong những đêm trăng đẹp Hạ Long . ta tự hào đất nước ta đã có 3000 km đường biển . Biển ta giàu có , dồi dào hải sản , bao la tiềm năng . Nhờ đó đã cải thiện và mang lại thu nhâp cho nhân dân nhờ nghề đánh bắt . Cách đánh cá trên biển cũng được miêu tả rất lãng mạn. Lao động thực sự là niềm vui của cuộc đời . Người lao động là người đáng quý nhất trong cuộc sống. Hình ảnh người dân chài trong bài thơ là hiện thân của người có sức sống lớn lao. Cuộc đời họ gắn liền với sóng gió mùa nắng biển khơi . Chính họ đã đem lại muối mặn và hương vị biển cho mọi gia đình gần xa . Họ với người nông dân 1 nắng 2 sương đã cho ta bài học về đức tính cần cù và tinh thần lạc quan trong lao động

Trước kháng chiến nhà thơ Huy Cận thường mang 1 nỗi buồn u uất. Nhưng từ khi trở thành nhà thơ cách mạng Huy Cận đã say sưa ca ngợi con người mới , cuộc sống mới nên thơ ông trở nên ấm áp , đằm thắm và dào dạt niềm vui . Bài thơ đoàn thuyền đánh cá đã ra đời trong mạch cảm xúc ấy nên có thể xem đó là 1 món quà đặc biệt cho vùng mỏ Quảng Ninh là cẩm phả cho vào túi thơ của Huy Cận.

Bằng những câu từ mộc mạc, những hình ảnh quen thuộc nơi biển cả Đoàn thuyền đánh cá đã đưa đến cho người đọc những câu thơ vô cùng ý nghĩa và giá trị. Làm cho ta yêu hơn vùng đất nơi mình sinh ra và lớn lên. 

 

Hướng dẫn soạn bài Quê hương của Tế Hanh đầy đủ nhất

Nhắc đến quê hương lẽ chúng ta không thể nào quên bài thơ Quê hương của Tế Hanh. Quê hương trong mỗi người chúng ta là những cảm nhận khác nhau. Là nơi chúng ta sinh ra, được nuôi dưỡng bởi những câu ca ru ngọt ngào của mẹ. tiepsucmuathi.edu.vn sẽ cập nhật tài liệu hướng dẫn các bạn soạn bài Quê hương một cách đầy đủ và chính xác nhất.

Hướng dẫn soạn bài Quê hương của Tế Hanh đầy đủ nhất

A. YÊU CẦU

– Cảm nhận được vẻ đẹp tươi sáng, giàu sức sống của một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạt lao động của làng chài. Bài thơ cho thấy tình cảm quê hương đằm thắm, thiết tha của tác giả.

– Thấy được những nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.

B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

PHẦN BÀI HỌC

Câu 1. Sau hai câu thơ mở đầu rất bình dị, tự nhiên, tác giả giới thiệu chung về làng quê của mình, nội dung hầu như chỉ có ý nghĩa thông tin, tiếp đến 6 câu miêu tả cảnh “trai tráng bơi thuyền đi đánh cá” một buổi “sớm mai hồng” rộng rãi, khoáng đạt. Đó là những câu thơ đẹp, đã mở ra cảnh tượng bầu trời cao rộng, trong trẻo, nhuốm nắng hồng bình minh: trên đó, nổi bật lên hình ảnh đoàn thuyền bang mình ra khơi: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo vội vã vượt trường giang Hình ảnh so sánh (con tuấn mã) và một loạt từ ngữ: hăng, phăng, vượt… diễn tả đầy ấn tượng khí thế bang tới dũng mãnh của con thuyền ra khơi, toát lên một sức sống mạnh mẽ, một vẻ đẹp hùng tráng bất ngờ. Bốn câu thơ vừa là phong cảnh thiên nhiên tươi sáng, vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi và dào dạt sức sống của người làng chài chinh phục sông nước. Hai câu tiếp theo miêu tả cánh buồm thuyền chài rất đẹp, một vẻ đẹp đầy lãng mạn với sự so sánh độc đáo bất ngờ: Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao ba thâu góp gió Hình ảnh cánh buồm trắng căng gió biển khơi quen thuộc bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng, vừa thơ mộng vừa hùng tráng. Tế Hanh như nhận ra đó chính là biểu tượng của linh hồn làng chài. Nhà thơ vừa vẽ ra chính xác cái hình, vừa cảm nhận được cái hồn của sự vật. Sự so sánh ở đây không chỉ làm cho việc miêu tả được cụ thể hơn mà đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng, mang ý nghĩa lớn lao. Liệu có hình ảnh nào diễn tả được chính xác, giàu ý nghĩa và đẹp hơn để biểu hiện linh hồn làng chài bằng hình ảnh cánh buồm trắng trương to no gió biển khơi bao la đó? Khổ 3 là cảnh dân làng chài đón thuyền cá trở về, một bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống: toát ra từ không khí ồn ào, tấp nập đông vui, từ những chiếc ghe đầy cá, từ những con cá tươi ngon thân bạc trắng thật thích mắt, cả từ lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên “biển lặng” che chở người đi chài trở về an toàn với “cá đầy ghe”… Khổ thơ sau rất đặc sắc, miêu tả người dân chài và con thuyền nằm nghỉ trên bến sau chuyến ra khơi. Câu đầu (Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng) là tả thực, câu sau là sáng tạo độc đáo, gợi tả, rất thú vị: Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Thể hiện người lao động làng chài, những đứa con của biển khơi, có những nét: nước da ngăm nhuộm nắng nhuộm gió, thân hình vạm vỡ và thấm đượm vị mặn mòi, nồng tỏa “vị xa xăm” của biển khơi. Hình ảnh người dân chài vừa chân thực vừa lãng mạn và trở nên có tầm vóc. Hai câu tiếp theo miêu tả chiếc thuyền nằm im trên bến sau khi vật lộn với sóng gió trở về cũng là sáng tạo nghệ thuật độc đáo như vậy. Tác giả không chỉ thấy con thuyền đang nằm im trên bến mà còn “thấy” sự mệt mỏi say sưa (lời Hoài Thanh) của con thuyền. Tác giả còn cảm thấy con thuyền ấy như đang lắng nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ của nó. Con thuyền vô tri vô giác đã trở nên có hồn, một tâm hồn rất tinh tế. Cũng như người dân chài, con thuyền lao động ấy cũng thấm đậm vị muối mặn của biển khơi. Không có một tâm hồn tinh tế, tài hoa và nhất là nếu không có tấm lòng gắn bó sâu nặng với con người cùng cuộc sống lao động làng chài quê hương thì không thể có những câu thơ xuất thần như vậy.

Câu 2. Trong bài thơ, tác giả đã khắc họa được hình ảnh quê hương mình và người dân làng chài rất gợi cảm thông qua thủ pháp so sánh độc đáo. Ví dụ như: – Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… – Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Cánh buồm trắng khi no gió phồng căng lên đầy gợi cảm. Vóc dáng cường tráng, khoáng đạt của cánh buồm chính là hơi thở của con thuyền, là linh hồn của người điều khiển nó, là biểu tượng của hồn làng chài. Ở đây nhà thơ đã so sánh hình ảnh cánh buồm, vật cụ thể hữu hình với mảnh hồn làng, cái trừu tượng vô hình. Vì vậy, nét tinh thần riêng của làng chài được hình tượng hóa bằng một hình ảnh cụ thể mà bay bổng và giàu ý nghĩa lớn lao. Thể chất cường tráng, mạnh mẽ, tính cách hiên ngang, phóng khoáng, khát khao bay bổng và hùng tráng ở người dân chài đã lộ rõ trong cánh buồm trắng ấy. Hai câu sau miêu tả hình ảnh người dân chài – người lao động bình thường. Nhưng với sự sáng tạo độc đáo và gợi tả, Tế hanh đã nâng cao tầm vóc của họ ở tư thế của đứa con biển cả kiên cường dũng cảm lập nên những kì công đáng khâm phục. Người dân chài ở đây được khắc tạc như một bức tượng đài có hình khắc, màu sắc và vị đặc trưng của biển cả. Đó là những con người có làn da rám nắng nhuộm gió vật lộn từng trải, thân hình chắc khỏe, nồng hóa “vị xa xăm” của biển khơi. “Vị xa xăm” đó là gì nếu không phải là vị mặn môi, nồng đậm của biển cả, hơn thế, đó còn là mùi vị, là hơi thở của đại dương, của chân trời tít tắp…

Câu 3. Để vẽ ra một bức tranh làng quê miền biển khỏe khoắn, đặc biệt khắc họa chân thực và sinh động hình ảnh người dân chài cũng như sinh hoạt lao động của làng chài như vậy, rõ ràng Tế Hanh phải có một tâm hồn tinh tế và tài hoa, một tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương, một nỗi nhớ thương da diết, nồng hậu về vùng quê sông nước bao la đó.

Câu 4. Quê hương là bài thơ trữ tình, nhưng 4/5 số khổ thơ lại chủ yếu là phương thức miêu tả. Ngay trong 4 câu khổ thơ kết, phương thức biểu đạt chủ yếu là biểu cảm, nhưng hai câu giữa cũng là miêu tả. Song đây vẫn là thơ trữ tình, mà phương thức biểu đạt chủ yếu, bao trùm là biểu cảm, bởi lẽ toàn bộ hệ thống hình ảnh miêu tả chỉ là tái hiện phong cảnh, cuộc sống và người dân làng chài quê hương trong nỗi nhớ của chủ thể trữ tình. Như vậy, yếu tố miêu tả ở đây là phục vụ cho biểu cảm, trữ tình, dù chiếm một tỷ lệ lớn trong tác phẩm. Mặt khác, ngòi bút miêu tả của tác giả ở đây không khách quan chủ nghĩa, mà trái lại, bay bổng cảm hứng, cảm xúc chủ quan. Như vậy mới có những so sánh đẹp, bay bổng, mới mẻ, có những chỗ sử dụng biện pháp nhân hóa một cách độc đáo, thổi linh hồn cho sự vật, khiến sự vật có một vẻ đẹp, một ý nghĩa, một tầm vóc bất ngờ. – Có thể nói, nét đặc sắc nghệ thuật nổi bật nhất của bài thơ này là ở sự sáng tạo hình ảnh thơ. Bài thơ khá phong phú hình ảnh. Có những hình ảnh miêu tả chính xác không tô vẻ, chính xác đến từng chi tiết, khiến người đọc như trông rõ mồn một cảnh được miêu tả (khổ một, hai câu đầu khổ 2, khổ 3, hai câu giữa khổ cuối): nhưng lại có những hình ảnh bay bổng, đầy lãng mạn, rất có hồn như trên đã phân tích. Hoài Thanh nhận xét rất tinh: “Tôi thấy Tế Hanh là mộ người tinh lắm. Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất chân tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ. Ngoài ra, nhà thơ sử dụng nghệ thuật so sánh rất tinh tế, góp phần tạo ra những hình ảnh gợi cảm. Thêm nữa, ngôn từ giản dị mà giàu cảm xúc, khơi gợi được nhiều liên tưởng.

Luyện tập 2. Sưu tầm, chép lại những bài thơ về tình quê hương mà em yêu thích nhất (Gợi ý: Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh, Quê hương – Giang Nam, Mẹ Tơm – Tố Hữu, Bên kia sông Đuống – Hoàng cầm, Việt Bắc – Tố Hữu…).

Soạn bài Quê hương của Tế Hanh  đọng lại trong lòng người đọc về một bức  tranh tươi sáng, sinh động và đầy chất lãng mạn trữ tình về một làng quê miền biển với những hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và những sinh hoạt lao động thường ngày của làng chài. Theo dõi chúng tôi để có thêm nhiều tài liệu soạn bài thơ Quê hương một cách cụ thể và chính xác nhất. 

 

Hướng dẫn soạn bài Làng của Kim Lân chi tiết nhất

Làng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà văn Kim Lân viết về làng quê và những người dân quê Việt Nam. Truyện ngắn này được sáng tác vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và được đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Sau đây tiepsucmuathi.edu.vn sẽ hướng dẫn các bạn Soạn bài Làng của Kim Lân một cách chi tiết và cụ thể nhất để hiểu rõ nội dung tác phẩm hơn.

I. Tác giả

Kim Lân (1920-2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng Tám 1945. Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân. Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

II. Tác phẩm.

1. Hoàn cảnh sáng tác:

Viết năm 1948 trong thời kì đầu cuộc k/c chống Pháp.

 2. Tóm tắt:

Ông Hai là một nông dân yêu làng. Vì hoàn cảnh ông phải cùng gia đình đi tản cư nhưng lúc nào cũng nhớ về làng Chợ Dầu. Ông có đặc điểm nổi bật là có tính hay khoe. Đi đâu ông cũng khoe về làng mình. Trước CM, ông khoe cả cái sinh phần của viên tổng đốc người làng ông. Nhưng khi CM về, ông không hề nhắc đến cái cái sinh phần kia nữa. Trái lại ông còn thù nó nữa vì nó đã từng làm khổ ông và bao nhiêu người. Gìơ đây ông chỉ khoe làng Chợ Dầu hăng say tập luyện chiến đấu. Bất ngờ xảy ra; ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc. Sau khi nghe tin, ông đau đớn đến tột độ, suốt mấy ngày liền, không dám đi đâu. Trước đây ông muốn về làng, bây giờ ông lại sợ. Yêu làng là thế, nay ông thấy thù cái làng Chợ Dầu đã theo Tây. Đau đớn, ông không biết trò chuyện cùng ai, chỉ biết trò chuyện cùng thằng con trai. Nhưng rồi cái tin thất thiệt kia được cải chính. Nỗi đau biến mất. Ông Hai lại khoe làng. Ông lật đật đi nơi này, nơi khác, vừa khoe làng vừa múa tay lên với một niềm vui quá lớn. Ông khoe làng mình, nhà mình bị đốt…Điều đó cho thấy tình yêu làng, yêu nước mãnh liệt cảu ông Hai.

3. Nội dung:

Tình yêu làng ở ông Hai- n/v chính của truyện – được thể hiện một cách thật riêng biệt. Đó là cái tính khoe làng của ông với tất cả sự say sưa và hãnh diện. Ông cùng gia đình phải rời làng  tản cư, nhưng lúc nào ông còng nhớ về cái làng Chợ Dầu của mình. Tình cảm yêu làng yêu nước của ông Hai càng được bộc sâu sắc trong một tình huống đặc biệt: đó là khi ông đột ngột nhận được tin làng mình theo giặc. T/G đã miêu tả tinh tế  và sâu sắc diễn biến tâm trạng của ông Hai từ khi nghe được cái tin ấy. Nỗi đau xót và tủi hổ bao trùm trong lòng ông và cả gia đình ông sống trong tâm trạgn hết sức căng thẳng. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, tình yêu làng và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến ở người nông dân này lại càng được biểu hiện một cách chân thành và hết sức cảm động, đặc biệt là trong những lời tâm sự của ông với đứa con trai út.
Trong đoạn kết, khi cái tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc được cải chính, tình yêu làng và tinh thần kháng chiến của ông Hai một lần nữa được thể hiện sinh động và chân thực trong nỗi mừng hả hê của ông mặc dù nhà ông bị giặc đốt nhẵn.

 4. Nghệ thuật:

Tác giả đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện, trong nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật. Truyện được trần thuật ở ngôi thứ ba nhưng chủ yếu theo điểm nhìn của nhân vật ông Hai

 5. Chủ đề:

Lòng yêu nước của người nông dân.

B. Nội dung cụ thể

1. Tình huống truyện :

Khi ở nơi tản cư, lúc nào ông Hai cũng da diết nhớ về làng và tự hào về nó thì bỗng nhiên ông nghe tin làng mình theo giặc. Chính tình huống ấy đã cho thấy lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến đã bao trùm và chi phối tình cảm quê hương ở ông, đồng thời làm bộc lộ sâu sắc và cảm động tinh thần yêu làng, yêu nước ở ông Hai.

2. Nhân vật ông Hai.

a. Là một người nông dân chất phác, hồn hậu, chân chất, yêu làng, quan tâm đến kháng chiến :
– Xa làng rồi nhớ làng, tính nết của ông có phần thay đổi. Ông ít nói cười, lầm lầm lì lì…Ông vô cùng đau khổ(cáu gắt với vợ con…).
– Nhưng vì hoàn cảnh gia đình neo bấn, vì vợ con thúc bách, cực chẳng đã, phải xa quê hương, ông tự an ủi : ” Thôi thì
chẳng ở lại làng cùng anh em được thì tản cư cũng là kháng chiến”.
– Đến nơi tản cư mới, ông luôn nhớ về cái làng của mình nên ông thường đến nhà hàng xóm để cởi mở giãi bày những suy nghĩ, tình cảm của mình về cái làng Chợ Dầu thân yêu, về cuộc kháng chiến của dân tộc.
    + Tối tối, ông thường đến gian nhà bác Thứ để nói chuyện về cái làng của mình. Ông kể về làng ” bằng một giọng say sưa “, ” vén quần lên tận bẹn ” mà kể, kể mà không cần biết có ai nghe không hay ” ông  chỉ kể cho sướng cái miệng…”
   + Ông kể về những ngày ở nhà tham gia cùng anh em đào hào, đắp ụ…  ” cũng đào cũng đắp, cũng hát hỏng bông phèng”
– Ông đi nghe báo, ông đi nghe nói chuyện, ông bàn tán về những sự kiện nổi bật của cuộc kháng chiến.

 b. Là một người yêu làng yêu nước. Ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ.

– Ông hay khoe về làng với vẻ náo nức say mê
    + Trước CM ông khoe làng có cái sinh phần của viên tổng đốc một cách rất hả hê.
   + Sau CM, người ta không còn thấy ông khoe về cái sinh phần ấy nữa mà quay ra ghét nó, vì vì nó mà ông và bao anh em khác phải khổ, mà bây giờ ông phải đi tập tễnh…  ”  Xây cái lăng ấy cả làng phải phục dịch…”.(có sự thay đổi trong nhận thức)
  + Bây giờ ông khoe làng ông có tinh thần kháng chiến, tinh thần khởi nghĩa, ông khoe ông gia nhập phong trào từ hồi còn trong bóng tối, rồi những buổi tập quân sự, khoe những hố, những ụ, những giao thông hào của làng…
 + Cũng vì yêu làng mà ông nhất quyết không chịu rời làng đi tản cư. Đến khi phải đi, ông buồn khổ lắm, sinh ra hay bực bội.
– Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, nhớ những ngày cùng làm việc với anh em ” Ồ sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra…Trong lòng ông lão thấy náo nức hẳn lên…”Lúc này, niềm vui của ông là hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng Chợ Dầu của ông đánh Tây.

 c. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc.

– Ông nghe được cái tin ấy từ miệng những người đàn bà tản cư(chú ý thái độ của những người này khi nói về chuyện làng ông theo giặc…)
     + Ông đang vui ” ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá “. Ông nhận được cái tin ấy như sét đánh ngang tai, cái tin đã làm ông điếng cả người : ” Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ…giọng lạc hẳn đi” ; ” Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi” và nghĩ đến sự dè bỉu của bà chủ nhà. Ông như vừa bị mất một cái gì quí giá, thiêng liêng lắm.(Chú ý những câu văn miêu tả tâm trạng của ông thật xúc động :” Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông cứ giàn ra…chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư… ? ” Nỗi nhục nhã, mặc cảm  phản bội hành hạ ông đến khổ sở  ” Chao ôi ! Cực nhục chưa, cả làng làm Việt gian…”)
      + Suốt mấy ngày liền ông không ra khỏi nhà vì xấu hổ
– Ông rơi vào trạng thái bế tắc khi bà chủ nhà có ý đuổi đi chỉ vì họ là người của làng theo Tây. Gia đình ông ở vào tình
thế căng thẳng. Ông Hai phải đối mặt với tình thế khó khăn nhất.
– Tình thế khó khăn buộc ông phải lựa chọn. ” Hay là quay về làng” từ chỗ yêu làng tha thiết, lúc này ông đâm ra thù cái làng mình : ” Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng lúc này là bỏ k/c, bỏ cụ Hồ…” và cuối cùng ông quyết định ” Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù…” một lựa chọn dứt khoát càng làm rõ tình yêu làng yêu nước trong ông Hai.
   – Quá đau khổ không biết trò chuyện cùng ai, cuộc trò chuyện với thằng con út  đã giải quyết tạm thời tình thế của ông lúc đó….Những lời đáp của đứa con cũng là tâm huyết, gan ruột của ông, một người lấy danh dự của làng quê làm danh dự của chính mình, một người son sắt một lòng với k/c, với cụ Hồ. Những lời thốt ra từ miệng con trẻ như minh oan cho ông, chân thành và thiêng liêng.

 d. Ông Hai khi nghe tin cải chính :

– Ông là người sung sướng nhất, ông tươi vui rạng rỡ hẳn lên, ông đi mua quà cho con, mồm bỏm bẻm nhai trầu, ông lại đi khoe làng. Ông khoe nhà ông bị giặc đốt với một thái độ mừng rỡ vì đó là bằng chứng làng ông không theo Tây. ” chúng nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn” ”  toàn sai sự mục đích cả”…
  Đoạn cuối truyện đã làm cho chân dung nhân vật ông Hai trở nên sống động, đẹp đẽ hơn, tình yêu làng, yêu nước của ông thêm sâu sắc hơn.

  3. Nghệ thuật :

Khắc họa tâm lí nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại…làm nổi bật tâm trạng ông Hai.
 Bằng nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật, ngôn ngữ độc thoại, đối thoại nhà văn Kim Lân đã mang đến cho nền văn học Việt Nam tác phẩm để đời sâu  sắc. Trên đây tiepsucmuathi.edu.vn đã hướng dẫn soạn bài Làng cho các bạn tham khảo. Chúc các bạn soạn bài Làng một cách hoàn chỉnh và tốt nhất. 

Em hãy cảm nhận về tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của O’Henry

Cảm nhận về tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri là một trong những đề bài tập làm văn mà các giáo viên thường ra bài cho các bạn học sinh. Bài viết dưới đây là một tài liệu vô cùng quan trọng giúp các bạn tham khảo những lời văn ý nghĩa để từ đó viết nên được một bài cảm nhận hay nhất về tác phẩm Chiếc lá cuối cùng.

Ai đã từng đọc truyện ngắn của nhà văn người Mỹ O’Hen-ri hẳn sẽ cảm nhận một điều: từ hiện thực cuộc sống đầy rẫy những bất công vô lý, đem đến bao bất hạnh cho những cuộc đời nghèo khổ, nhà văn luôn khơi dậy được vẻ đẹp tâm hồn những con người ấy qua những tình huống truyện bất ngờ, cảm động.

O-hen-ri là nhà văn Mỹ nổi tiếng với những tác phẩm văn học nhẹ nhàng, sâu lắng, giàu giá trị nhân văn. Đọc những trang viết của O-hen-ri người đọc có cảm giác như đang được sống trong những bức tranh được vẽ bằng ngôn từ của ông. “Chiếc lá cuối cùng” trích trong tác phẩm cùng tên của O-hen-ri thực sự có sức ám ảnh lớn, lay động đến tâm can người đọc vì tình thương yêu cao cả vĩ đại của những con người ông khắc họa nên.

“Chiếc lá cuối cùng” có thể xem là kiệt tác để đời của nhà văn Mỹ này, ông đã tái hiện thành công hiện thực xã hội Mỹ thời bấy giờ, có những con người cùng cực, nghèo khổ, ước mơ và khát vọng vẫn còn đó nhưng bị vùi dập. Tuy nhiên đọc những trang viết của ông người đọc nhận ra sự kiên cường, tinh thần bất diệt không chịu đầu hàng số phận, và cả những người chịu hi sinh bản thân mình vì ước mơ và sự sống của người khác. Đoạn trích cùng tên “chiếc lá cuối cùng” có thể xem là đã lột tả được hết những điều đó. Một đoạn trích giàu giá trị nhân văn và nghệ thuật, xứng là là tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc.

Chiếc lá cuối cùng là một trong những trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn ắp tràn tình yêu thương và niềm tin với con người, một bức thông điệp khẳng định sứ mạng và sức mạnh của nghệ thuật chân chính.

“Chiếc lá cuối cùng” kể về cuộc sống nghèo khổ của ba người nghệ sĩ: Giôn xi, cụ Bơ men, Xiu. Họ đều là những người tài hoa, luôn đi tìm kiếm cái đẹp và mong muốn có những tác phẩm nghệ thuật để đời. Nhưng cuộc sống khắc nghiệt, nghèo đói và bệnh tật khiến họ rơi vào hố sâu của tuyệt vọng. Giôn xi phát hiện ra mình bị mắc bệnh viêm phổi nặng, cô nằm trên giường bệnh, tuyệt vọng đếm những chiếc lá bám trên dây thường xuân ngoài tường rơi rụng, khi nào chiếc lá cuối cùng rơi đồng nghĩa với việc cô đã chết. Xiu là người bạn của Giôn xi, bất lực nhìn người bạn mình tiều tụy từng ngày. Ông cụ già Bơ men là người họa sĩ sống ở tầng dưới, cả cuộc đời ông vẫn luôn trằn trọc và khát vọng có một tác phẩm để đời, đã 40 năm rồi nhưng ông vẫn chưa làm được điều đó. Cả ba con người họ, đều chung một ước mơ, chung một số phận nhưng cuộc đời trớ trêu đều đẩy họ vào con đường cùng.

O-hen-ri đã rất thành công khi khắc họa diễn biến tâm lý của nhân vật, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện và đảo tình huống truyện cực kỳ độc đáo. Hiếm có nhà văn nào có thể làm được điều này.

Mỗi ngày Giôn xi đều nhìn ra ngoài khung cửa sổ mà đếm lá rơi, niềm tin trong cô vơi cạn dần, hi vọng càng trở nên mong manh. Chính điều này khiến cho Xiu và cụ Bơ men buồn bã “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”. Sự im lặng khiến cho cả căn phòng rơi vào trạng thái mất cân bằng. Mọi thứ dường như trở nên tồi tệ hơn rất nhiều.

Hình ảnh cô gái trẻ Giôn xi vì bệnh tật mà cự tuyệt tất cả, phó mặc cho số phận, nói đúng hơn là phó mặc cho những chiếc lá vô tri vô giác ở ngoài kia. Cô đã để cho tuổi trẻ, để cho ước mơ và khát vọng của mình không còn một con đường nào để đi nữa. Cô khiến người đọc trở nên xung đột với mình, cô có đáng trách không, hay cô đáng thương. Thực ra cô là cô gái có khát vọng nhưng vì hiện thực khắc nghiệt nên mới rơi vào tình trạng này. Cô vẫn luôn có ước mơ “được vẽ vịnh Na-Plo”.

O-hen-ri khiến người đọc hồi hộp, chờ đợi tình huống truyện tiếp theo xảy ra như thế nào. Trên dây thường xuân chỉ còn lại một chiếc lá cuối cùng, chiếc lá ấy chính là niềm hi vọng cũng là sự tuyệt vọng của Giôn xi. Gion xi thất vọng “hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó em sẽ chết”. Nhưng có một tình huống bất ngờ xảy ra như một phép nhiệm màu. Đêm hôm ấy gió mưa tràn về nhưng kỳ lạ thay “chiếc lá vẫn còn đó”, bất chấp sự khắc nghiệt của thời tiết. Giôn xi cảm thấy rất  khó hiểu nhưng cũng tràn đầy niềm tin. Hóa ra sau tất cả sự khắc nghiệt và khó khăn thì chiếc lá ấy vẫn còn.

Tình huống truyện đảo ngược ở cuối truyện thực sự đã khiến trái tim của một cô gái tuyệt vòng trở nên có niềm tin hơn. Nhưng sự thật tì chiếc lá cuối cùng bám lại trên tường ấy chính là kiệt tác của cụ Bơ men, cụ đã bất chấp thời tiết nắng mưa ấy làm một việc vô cùng nhân văn, tạo niềm tin và nghị lực cho chính cô gái trẻ. Chi tiết “chiếc lá cuối cùng” chính là chi tiết đắt giá, đậm chất nhân văn cũng như giàu tính nghệ thuật, mang đến cho người đọc nhiều suy nghĩ. Đây chính là bức tranh cuối cùng, là kiệt tác trong cả một đời làm họa sĩ của cụ Bơ men. Không bất kỳ ai biết được sự thật đó, chỉ sau khi cụ Bơ men ra đi thì mọi người mới bừng tỉnh. Suốt cả cuộc đời nghệ sĩ của mình thực sự cụ Bơ men đã có được kiệt tác để đời. Một kiệt tác không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn thấm đẫm tình người.

Tấm lòng của một con người thật đáng quý, ông hi sinh bản thân mình để tạo tin yêu và hi vọng cho người khác, khiến người khác ngưỡng mộ và trân trọng.

O-hen-ri với cách xây dựng tình huống truyện ngược cùng cách khắc họa tâm lý nhân vật cực kỳ sâu sắc đã mang đến cho tác phẩm này một sức sống mãnh liệt nhất, đó là tình yêu thương người với người vô bờ bến.

“Chiếc lá cuối cùng” của O-hen-ri thực sự là những trang viết ám ảnh với ngược đọc bởi tình nhân văn sâu sắc và tính nghệ thuật cực kỳ độc đáo. Với thông điệp “hãy yêu thương mọi người và không ngừng hi vọng vượt lên số phận” thì tác giả đã làm được một điều kỳ diệu và thành công nhất.

Khép lại những trang sách, tôi vẫn không thể nào quên những dòng chữ cuối cùng của tác phẩm Chiếc lá cuối cùng. Cảm giác dường như mình vừa đang trải qua một hành trình dài đầy ý nghĩa của bản thân. Đến bây giờ nếu ai có hỏi tôi: Nghệ thuật là gì?  Tôi sẽ chẳng ngần ngại: Nghệ thuật chính là cuộc sống./.

 

Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi hay nhất

Xuân, hạ, thu, đông – Bốn mùa của thiên nhiên đất trời  là đề tài muôn thuở của thơ ca. Trong đó,  cảnh ngày hè đã được Nguyễn Trãi đưa vào thơ ca như một lẽ tự nhiên của cuộc đời người  thi sĩ. Ở đó, một nhành cây, một ngọn cỏ, một tiếng chim… cũng là nơi mà người thi sĩ nhắn gửi tâm tư, nỗi lòng mình và viết lên những vần thơ đáng quý.

Nguyễn Trãi – một bậc thi ca của văn học Việt Nam, cuộc đời ông sống giao cảm với thơ với cuộc sống thiên nhiên và con người. Cảnh quan trường làm cho ông nghẹt thở bởi những toan tính chèn ép vậy nên ông đã quyết định tìm về với thiên nhiên để cho tâm hồn mình thanh tịnh. Trong thời gian ấy ông làm thơ về thiên nhiên nhưng trong những vần thơ thiên nhiên ấy lại có những tâm sự về sự lo lắng cho nhân dân đất nước. bài thơ Cảnh ngày hè là một bài thơ như thế. Trong thiên nhiên mùa hè và cảnh sống sinh hoạt của nhân dân Nguyễn Trãi vẫn thể hiện tình yêu nhân dân đất nước của mình.

Bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả

Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả.

Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế.

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

     Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là “Rỗi hóng mát thuở ngày trường”. Nhưng “rỗi” hay “rồi” cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi “Ngày trường” lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài”. Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành “hóng mát” cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa.

      Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên.

Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”.

     Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hòe lớn lên nhanh, tán cây tỏa rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời…

Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ

       Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.

     “Chợ” là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh… lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi.

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

      “Dân giàu đủ”, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ.

      Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.

      Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm “cuồn cuộn nước triều Đông”. Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng Ức Trai vẫn canh cánh “một tấc lòng ưu ái cũ”. Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhân dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.

Cảnh ngày hè đi vào lòng người đọc, người nghe một cách nhẹ nhàng mà thấm đẫm nỗi lòng. Phải chăng là tác giả tức cảnh nên thơ hay chính những tâm tư, nỗi lòng yêu nước của cuộc đời người thi sĩ đã mang lại cho chúng ta những vần thơ đáng quý như thếtrong Cảnh ngày hè

 

 

Tài liệu hướng dẫn làm bài tục ngữ về con người và xã hội chi tiết nhất

Bên cạnh việc cập nhật cho các bạn những tài liệu về cảm nhận và phân tích tác phẩm văn học, thơ ca thì tiepsucmuathi.edu.vn chúng tôi còn cung cấp đầy đủ các tài liệu hướng dẫn làm bài tập ngữ pháp. Dưới đây là bài cung cấp thông tin chi tiết nhất được nhiều bạn tham khảo về bài giảng tục ngữ về con người và xã hội trong quá trình học tập.

Tài liệu hướng dẫn làm bài tục ngữ về con người và xã hội chi tiết nhất

 

Câu 1: Đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu các câu tục ngữ và một số từ khó.

Câu 2: Phân tích từng câu tục ngữ:

Câu Nghĩa của câu tục ngữ Giá trị kinh nghiệm được thể hiện TH ứng dụng câu tục ngữ
1 Con người quý hơn tiền bạc Đề cao giá trị của con người Cha mẹ yêu con, muốn con được sống và học tập tốt. Xã hội quan tâm tới quyền con người.
2 Răng và tóc là các phần thể hiện hình thức, tính nết con người. Phải biết chăm chút từng yếu tố thể hiện hình thức, tính nết tốt đẹp của con người. Rèn luyện từ cái nhỏ nhất. Chú ý lời nói, cử chỉ, bước đi…
3 Dù khó khăn về vật chất, vẫn phải trong sạch, không làm điều xấu. Dù nghèo khó vẫn phải biết giữ gìn nhân cách tốt đẹp. Giữ mình, tránh xa cám dỗ như: nghiện hút, trò chơi điện tử, đua đòi ăn diện bỏ bê học hành…
4 Cần phải học cách ăn, nói,… đúng chuẩn mực. Cần phải học các hành vi ứng xử văn hoá. Khéo léo đúng mực trong nói năng, giao tiếp với thầy cô, cha mẹ, bạn bè.
5 Muốn làm được việc gì cũng cần có người hướng dẫn. Đề cao vị thế của người thầy. Tìm thầy học để có cơ hội hiểu biết, thành công.

Tôn trọng và biết ơn thầy bằng những việc làm cụ thể.

6 Học thầy không bằng học bạn. Đề cao việc học bạn. Học hỏi bạn bè trong lớp, ở những người có kiến thức hơn mình.

Tự học để nâng cao hiểu biết

7 Khuyên con người biết yêu người khác như chính bản thân mình. Đề cao cách ứng xử nhân văn. Cần nhắc ai đó biết giúp đỡ mọi người trong cuộc sống hàng ngày khi có thể, nhất là những người gặp khó khăn, hoan nạn.
8 Được hưởng thành quả, phải nhớ ơn người tạo ra thành quả đó. Phải biết ơn với người có công lao giúp đỡ, gây dựng, tạo nên thành quả. Nói về phong trào đền ơn đáp nghĩa. Nhận xét khi thấy một việc làm tốt thể hiện lòng biết ơn.
9 Việc lớn, việc khó không thể do một người làm được, mà phải cần nhiều người hợp sức. Khẳng định sức mạnh của tình đoàn kết. Nhắc nhở về tinh thần tập thể trong lối sống và làm việc tránh lối sống cá nhân.

Câu 3:

Hai câu tục ngữ 5, 6 nêu mối quan hệ thầy trò, bình luận, đánh giá vai trò của người thầy và xác định việc tiếp thu học hỏi từ bạn bè được nhân dân đúc kết:

+ Không thầy đố mày làm nên.

+ Học thầy không tày học bạn.

Mới đọc tưởng chừng hai câu tục ngữ đối lập nhau nhưng thực chất lại bổ sung chặt chẽ cho nhau. Cả hai câu, câu nào cũng đề cao việc học, chỉ có học tập, biết tìm thầy, tìm bạn mà học thì con người mới có thể thành tài. CHúng ta phải biết kết hợp học ở cả hai sẽ đem lại hiệu quả hơn.

Một số cặp câu tục ngữ cũng có nội dung tưởng ngược nhau nhưng lại bổ sung cho nhau:

Cặp 1:

– Máu chảy ruột mềm.

– Bán anh em xa, mua láng giềng gần

Cặp 2:

– Đi một ngày đàng học một sàng khôn

– Không đi không biết xứ đông

Đi thì khốn khổ thân ông thế này.

Câu 4: Các giá trị nổi bật của các đặc điểm trong tục ngữ:

– Diễn đạt bằng so sánh: Các câu có sử dụng biện pháp so sánh: 1, 6, 7.

Phép so sánh được sử dụng rất đa dạng, linh hoạt.

+ Trong câu thứ nhất, so sánh “bằng”, hai âm “ươi” (người – mười) vần và đối nhau qua từ so sánh.

+ Trong câu thứ hai cũng diễn đạt quan hệ đó, dân gian so sánh “tày”, vần với âm “ay” trong vế đưa ra so sánh (thầy).

+ Câu thứ ba dùng phép so sánh “như”. Các cách sử dụng đó có tác dụng dễ thuộc, dễ nhớ, chuyển tải ý tưởng một cách dễ dàng.

– Diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ: 8, 9

+ Hình ảnh ẩn dụ trong câu thứ nhất: từ quả – cây nghĩa đen chuyển sang thành quả và người có công giúp đỡ, sinh thành…

+ Tương tự như vậy, cây và non chuyển sang nghĩa một cá nhân và việc lớn, việc khó… là những phép ẩn dụ có tác dụng mở rộng nghĩa, diễn đạt uyển chuyển các ý tưởng cần nêu.

– Dùng từ và câu có nhiều nghĩa:

Cái răng, cái tóc (không những chỉ răng tóc cụ thể, mà còn chỉ các yếu tố hình thức nói chung – là những yếu tố nói lên hình thức, nhân cách con người).

Đói, rách (không những chỉ đói và rách mà còn chỉ khó khăn, thiếu thốn nói chung);sạch, thơm chỉ việc giữ gìn tư cách, nhân phẩm tốt đẹp.

Ăn, nói, gói, mở… ngoài nghĩa đen còn chỉ việc học cách giao tiếp, ứng xử nói chung.

Quả, kẻ trồng cây, cây, non… cũng là những từ có nhiều nghĩa, như đã nói trong câu 3.

Các cách dùng từ này tạo ra các lớp nghĩa phong phú, thích ứng với nhiều tình huống diễn đạt và hoàn cảnh giao tiếp.

Tham khảo thêm những câu tục ngữ về con người và xã hội hay nhất:

CON NGƯỜI :
– Người là vàng của là ngãi.
– Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.
– Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.
– Chết giả mới biết bụng dạ anh em.
– Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.
– Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.
– Người khôn dồn ra mặt.
Trông mặt mà bắt hình dung.
– Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,
– Con mắt là mặt đồng cân.
– Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.
– Lòng người như bể khôn dò.
– Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.
– To mắt hay nói ngang.
– Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
XÃ HỘI
– Xa mỏi chân, gần mỏi miệng.
– Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi.
– Bần cùng sinh đạo tặc.
– Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
– Phép vua thua lệ làng.
– Đất có lề, quê có thói.
– Lá lành đùm lá rách.
– Uống nước nhớ nguồn.
– Trời sinh voi, trời sinh cỏ.
– Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1. Nòi nào giống ấy.
2. Cây có cội, nước có nguồn.
3. Giấy rách giữ lề.
4. Cha già con cọc.
5. Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.
6. Giỏ nhà ai, quai nhà ấy.
7. Khôn từ trong trứng khôn ra.
8. Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
9. Máu chảy ruột mềm.
10. Khác máu tanh lòng.
1. Một người làm quan cả họ được nhờ.
2. Chim có tổ, người có tông.
3. Chú như cha, già như mẹ *
4. Sảy cha còn chú, sảy mẹ ấp vú dì
5. Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.
6. Cháu bà nội, tội bà ngoại.
7. Nó lú có chú nó khôn.
8. Đắng cay cũng thể ruột rà,
Ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng.
9. Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò,
Chín tháng lò dò chạy đi.
10. Trẻ lên ba cả nhà học nói.
1. Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.
2. Chị em dâu như bầu nước lã.
3. Áo năng may năng mới, người năng nói năng thân.
4. Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
5. Lời chào cao hơn mâm cỗ.
6. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.
7. Thua thầy một vạn không bằng thua bạn một ly.
8. Tin bợm mất bò, tin bạn mất vợ nằm co một mình.
9. Bán anh em xa mua láng giềng gần.
10. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
1. Cha mẹ sinh con trời sinh tính
1. Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn.
2. Dễ người dễ ta.
3. Sẩy đàn tan nghé.
4. Con sâu bỏ rầu nồi canh.
5. Cả vốn lớn lãi.
6. Bán hàng nói thách, làm khách trả rẻ.
7. Quen mặt đắt hàng.
8. Tiền trao cháo múc.
9. Chớ bán gà ngày gió, chớ bán chó ngày mưa.
10. Nhà gần chợ để nợ cho con.
1. Tiền không chân xa gần đi khắp.
2. Đồng tiền liền khúc ruột.
3. Của thiên trả địa.
4. Của thế gian đãi người thiên hạ.
5. Của một đồng, công một nén.
6. Có tiền mua tiên cũng được.
7. Người làm nên của, của không làm nên người.
8. Người sống đống vàng.
9. Thế gian chuộng của, chuộng công
Nào ai có chuộng người không bao giờ.
10. Nhiều tiền thì thắm, ít tiền thì phai.
1. Tiền bạc đi trước mực thước đi sau.
2. Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
3. Của bụt mất một đền mười.
4. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, đồng tiền đi sau là đồng tiền dại.
5. Mạnh về gạo bạo về tiền.
6. Của bền tại người.
7. Nhất tội, nhì nợ.
8. Công nợ trả dần, cháo nóng húp quanh.
9. Làm nghề gì ăn nghề ấy.
10. Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay.
1. Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.
2. Bầu dục chẳng đến bàn thứ tám, cám nhỏ chẳng đến miệng lợn sề.
3. Thằng mõ có bỏ đám nào.
4. Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.
5. Làm hàng săng, chết bó chiếu.
6. Dò sông, dò bể, dò nguồn
Biết sao được bụng lái buôn mà dò.
7. Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói dối.
8. Bà chúa đứt tay bằng ăn mày sổ ruột.
9. Muốn nói oan làm quan mà nói.
10. Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ.
1. Lễ vào quan như than vào lò.
2. Quan thời xa, bản nha thời gần.
3. Tuần hà là cha kẻ cướp.
4. Hay làm thì đói, hay nói thì no.
5. Cốc mò cò xơi.
6. Cá lớn nuốt cá bé.
7. Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.
8. Tức nước vỡ bờ.
9. Con giun xéo lắm cũng quằn.
10. Được làm vua, thua làm giặc.

 Những câu nói hay về tục ngữ về con người và xã hội luôn xuất hiện trong cuộc sống của mỗi con người, được ông cha ta đúc kết trong đời sống để nhằm Tôn vinh những phẩm chất cao đẹp và ngợi ca giá trị của con người hay đưa ra những lời khuyên, những bài học và phương cách ứng xử trong đời sống. Hi vọng các bạn đã bổ sung những kiến thức cơ bản cho mình từ bài viết này. 

Hướng dẫn soạn bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam khi phân tích cảnh chiều tối

tiepsucmuathi.edu.vn hướng dẫn các bạn soạn bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam khi phân tích bức tranh đời sống của phố huyện nghèo lúc chiều tối. Để từ đó nói lên được ý nghĩa của truyện mà Thạch Lam muốn gửi gắm đến độc giả.

Trong nền văn học dân tộc, ít có người như Thạch Lam. Bằng những truyện ngắn tưởng như đơn giản, không có cốt truyện nhưng những gì nhà văn viết, tiếng nói nhè nhẹ của ông đã để lại những lắng sâu, những nghĩ suy, những dư âm nhẹ nhàng mà sâu sắc cho độc giả. “Hai đứa trẻ” (in trong tập “Nắng trong vườn”, xuất bản năm 1938) là một truyện ngắn như thế.

Dưới con mắt ngây thơ của “Hai đứa trẻ”, người đọc dường như cùng nhập cuộc, cùng theo dõi, để rồi bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống của phố huyện nghèo, của những con người bình dị, lam lũ hiện lên. Trong nắng chiều dần tắt, trong cái nhập nhòe nửa sáng nửa tối và trong cái chập chờn của màn đêm bao la với vài ngọn đèn lay lắt, cuộc sống hiện lên như những vật thể nhỏ xíu, trong cái đèn kéo quân đang hết dầu chầm chậm quay, để rồi rơi tõm vào màn đêm sâu thẳm.

Cảnh không có gì hấp dẫn, hoạt động của con người thì lẻ tẻ, đơn điệu nhưng bức tranh chiều thì dần dần đen lại, chập chờn mấy ngọn đèn nhưng cứ lôi cuốn người đọc dõi theo cùng cô bé Liên bởi sự quan sát, cảm nhận, nhạy cảm, ngây thơ của cô bé, bởi sự hiện lên sống động, chân thực của bức tranh đời sống phố huyện nghèo đã gây nên cảm xúc trữ tình, tạo nên cảm giác buồn thương cho người đọc.

Mở đầu câu chuyện, Thạch Lam bằng sự quan sát tài tình của mình, bằng ngòi bút tài hoa của mình đã vẽ lên một bức tranh đơn giản mà huyền ảo, gây cho ta cảm giác như lạc vào thế giới thần tiên của truyện cổ tích: “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương Tây, đỏ rực như lửa cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn: dãy tre làng nước trước mắt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. Điệp từ “chiều” được nhắc đi nhắc lại, cái bóng tối lan nhanh thấm vào tâm hồn ngây thơ của cô bé Liên, cái âm thanh “êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng” tạo nên trong Liên nỗi “buồn man mác trước thời khắc của ngày tàn”.

Khoảng thời gian từ chiều tàn đến chập tối là khoảng thời gian con người đi vào nghỉ ngơi. Hẳn ta cũng biết lý do tại sao Thạch Lam chọn miêu tả phố huyện vào khoảng thời gian này trở về khuya? Vì ông là con người yêu thích sự tĩnh lặng, khoảng không thơ mộng? Hay vì phố huyện thật sự đúng cái tính trạng của nó chỉ vào khoảng thời gian này? Có lẽ cả hai. Chiều tàn đến chợ tàn, Thạch Lam đã chọn điểm nhìn thu hẹp, cận cảnh và chi tiết hơn để rọi vào hết mọi ngóc ngách cái tàn lụi của phiên chợ phố huyện. Bắt đầu là một quang cảnh vắng lặng từ sự biến mất của âm thanh Chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu. Người đi về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Tiếng ồn tượng trưng cho sự sầm uất của chợ – nơi người ta tụ họp giao thương, buôn bán. Một khi tiếng ồn mất đi thì chợ chẳng còn là chợ nữa. Không chỉ thế, chợ chiều cũng bừa bãi rác rưởi, tàn tạ chứ chẳng hề sạch đẹp văn minh: chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía và mùi ẩm mốc. Con người cũng trở nên vắng bóng, chỉ còn một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hóa. Và giờ là lúc những đứa trẻ nghèo đáng thương bắt đầu cuộc sống mưu sinh. Chúng lom khom nhặt nhạnh bất cứ thứ gì còn có thể dùng được bên rác rưởi của phiên chợ đã tàn – những kiếp người tàn.
Có lẽ đây là một ngẫu nhiên của Thạch Lam nhằm miêu tả sự thực phiên chợ trong kí ức tuổi thơ của ông?

Phiên chợ đã “vãn từ lâu”, “người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”, chỉ còn lại sự nghèo nàn, xa xác với những “rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá nứa”, chỉ còn lại “mùi âm ẩm bốc lên”, chỉ còn lại hơi nóng ban ngày, mùi cát bụi và cảnh mấy đứa con nhà nghèo lom khom đi lại, tìm tòi. Cái thế giới “cổ tích” mà nhà văn dựng lên khác nào thế giới của những cô Tấm, Lọ Lem ngày xưa!

Và rồi lần lượt hiện lên tiếp theo hình ảnh của những con người nghèo khổ khác: mẹ con chị Tí xách điếu đóm, đội chõng tre dọn hàng nước mặc dầu chẳng kiếm được bao nhiêu: “gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau trắng để trước mặt”: hàng phở của bác Siêu đến trong “tiếng đòn gánh kĩu kịt”; bà cụ Thi “hơi điên vẫn mua rượu ở hàng Liên” cất tiếng cười khanh khách lẽo đẽo đi vào trong màn đêm tối mênh mông, lay lắt như ngọn đèn trước gió của “hàng nước chị Tí”. “Vũ trụ thăm thẳm bao la”, “về phía huyện một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện ra”; “tiếng trống cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối”. Ngày lại ngày, chiều và tối đơn điệu lặp lại sự buồn tẻ ấy như cuộc sống lầm than của người dân phố huyện này. Ánh sáng của cuộc sống ấy có chăng chỉ là sự lay lắt “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ” như chiếc đèn của chị Tí. Sự sang trọng, vùng sáng lớn của con tàu đi qua phố huyện trong đêm chỉ lướt qua rồi mất hút vào đêm tối, chỉ là cái gì thật mơ hồ, xa lạ không biết bao giờ mới đến với cuộc đời của chị em Liên, của người dân phố huyện này.

Không một lời phê phán, không một sự lên án, không đặt ra một câu hỏi, ngòi bút tài hoa của Thạch Lam chỉ miêu tả đời sống thật, đời sống tối tăm, không hi vọng của người dân một vùng quê, một phố huyện nghèo mà sao làm nhức nhối chúng ta, gieo vào lòng ta một sự hoài nghi về xã hội thời nhà văn sống. Đóng góp như thế cho cuộc đời, cảm thông như thế cho thân phận con người, miêu tả như thế trong tác phẩm của mình, tâm hồn nhà văn đẹp đẽ biết bao, giá trị văn học mà Thạch Lam sáng tạo tài hoa và đáng trân trọng biết bao. Chúng ta xếp Thạch Lam vào những tên tuổi lớn của văn học nước nhà giai đoạn 1930 – 1945, độc giả biết ơn nhà văn đã viết những trang sách cho đời và coi ông như một trong những cây bút truyện ngắn bậc thầy thật đúng với tài năng của ông, đúng như tuyên bố của nhà văn với độc giả: “Đối với văn chương không phải là một cách mang đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”

Không phải đơn giản mà chúng ta đều có thể tự soạn bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam một cách đầy đủ và chính xác, hiểu được điều đó, tiepsucmuathi.edu.vn đã cập nhật những tài liệu chuẩn nhất để các bạn tham khảo. Chúc các bạn có một kết quả học tập như mong muốn.