Tham khảo soạn văn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Nhắc đến  thế hệ nhà thơ Việt Nam hiện đại có lẽ không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân. Ông là một trong những nhà văn có cá tính độc đáo bậc nhất trong thế hệ nhà thơ hiện đại Việt Nam, để tìm hiểu những độc đáo ấy, chúng ta sẽ cùng soạn văn  Chữ người tử tù để có một cái đánh giá đúng đắn cho nhận định trên.  

1. Tác giả 

  • Nguyễn Tuân (1910 – 1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Quê ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Từ nhỏ, ông theo gia đình sống ở nhiều tỉnh miền Trung. Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân đến với cách mạng, tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Từ năm 1948 đến 1958, ông là Tổng thư ký Hội văn nghệ Việt Nam.
  • Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp phần không nhỏ đối với văn học Việt Nam hiện đại: thúc đẩy thể tùy bút, bút ký văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách tài hoa và độc đáo. Năm 1996, Nguyễn Tuân được nhà nước tặng giải thưởng Hồ chí Minh về văn học nghệ thuật.
  • Những tác phẩm chính của Nguyễn Tuân: một chuyến đi (1938), vang bóng một thời (1940), thiếu quê hương (1940), chiếc lư đồng mắt cua (1941), Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972),…

2. Tác phẩm 

Truyện ngắn Chữ người tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in năm 1939 trên tạp chí Tao đàn và sau đó được tuyển in trong tập truyện Vang bóng một thời và đổi tên thành Chữ người tử tù. Vang bóng một thời khi in lần đầu (1940) gồm 11 truyện ngắn, là tác phẩm kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước cách mạng, được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét là “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ”. Nhân vật chính trong vang bóng một thời phần lớn là những nho sĩ cuối mùa- những con người tài hoa, bất đắc chí. Gặp lúc Hán học suy vị, sống giữa buổi “Tây Tàu nhố nhăng “, những con người này mặc dù buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với xã hội đương thời. Họ không chịu được cảnh a dua theo thời, chạy theo danh lợi mà vẫn cố gắng giữ thiên lương và sự trong sạch của tâm hồn. Họ dường như cố lấy cái tôi tài hoa ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục; phô diễn lối sống đẹp, thanh cao của mình như một thái độ phản ứng trật tự xã hội đương thời. Trong số những con người tài hoa nổi bật ấy, nổi bật lên hình tượng ông Huấn Cao trong chữ người tử tù, một con người tài hoa, không chỉ có tài mà còn có cái tâm trong sáng; mặc dù chí lớn không thành nhưng tư thế vẫn hiên ngang.

Chữ người tử tù là một tác phẩm văn học của Nguyễn Tuân. Tác phẩm lúc đầu tiên là Dòng chữ cuối cùng đăng trên tạp chí Tao đàn số 29 năm 1938, sau đó được in trong tập Vang bóng một thời (một tập truyện ngắn có giá trị như một kiệt tác viết về những thú chơi tao nhã, về những con người tài hoa thời phong kiến) và đổi tên là Chữ người tử tù. Tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên năm 1940.

Chữ người tử tù là một trong những thiên truyện xuất sắc nhất của tập sách. Truyện ngắn này được đưa vào chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11 hiện nay cả ở ban cơ bản và ban nâng cao. Tác phẩm ca ngợi cái đẹp của nghệ thuật và cái đẹp của “thiên lương” tập trung và rực rỡ nhất ở nhân vật chính là Huấn Cao và ở các nhân vật “Viên quản ngục” và “Thầy thơ lại” đồng thời hiểu được quan điểm thẩm mĩ của tác giả.

Cốt truyện: Huấn Cao là một tử tù do chống lại triều đình, ngoài ra ông còn là một nhà nho tài hoa nhất là tài “bẻ khóa và vượt ngục”. Trước khi bị xử tử, Huấn Cao bị giải đến nhà ngục nơi có viên quản ngục và thầy thơ lại-những người rất yêu mến cái đẹp và hâm mộ tài viết chữ của Huấn Cao. Trong những ngày bị giam ở đây, Huấn Cao được viên quản ngục và thầy thơ lại đối đãi rất tốt. Khi viên quản ngục nhận được tin ngày xử tử Huấn Cao đã tới gần, ông liền cùng thầy thơ lại vào nhà ngục để hoàn thành tâm nguyện là xin Huấn Cao cho chữ. Huấn Cao vì cảm mến thái độ “biệt nhỡn nhân tài” và tấm lòng yêu cái đẹp của viên quản ngục nên đã đồng ý cho chữ. Vào buổi tối trước ngày Huấn Cao bị xử tử, ở trong nhà lao tỉnh Sơn đã xảy ra một chuyện “trước nay chưa từng có”, đó là cảnh Huấn Cao-một tử tù trên mình đầy xiềng xích đang thỏa chí phóng từng nét bút trên tấm lụa trắng, bên cạnh là viên quản ngục và thầy thơ lại “run rẩy”, “khúm núm”. Sau khi đã cho chữ xong, Huấn Cao đã khuyên hai người nên tìm về nơi thôn dã bởi tấm lòng yêu cái đẹp của họ không thích hợp cho cuộc sống ở nơi hỗn loạn, rối ren như nhà ngục. Những lời khuyên đó của Huấn Cao đã làm viên quản ngục nghẹn ngào lạy tạ.

Câu 1. a) Tình huống truyện

Trong tác phẩm này, tác giả Nguyễn Tuân đã xây dựng được một tình huống truyện đầy độc đáo, Huấn Cao  là người đứng đầu của một cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, ông bị bắt và giải về kinh chịu án chém, trên đường giải về kinh ông đã có cuộc gặp gỡ với viên quản ngục, một con người có thiên lương trong sáng nhưng làm việc trong một môi trường đầy những cạm bẫy, xấu xa. Tại nơi ngục tối, một cảnh tượng có một không hai đã diễn ra, đó chính là cảnh cho chữ trong không gian ẩm mốc, tối tăm của nhà tù.

b)  Vai trò của tình huống truyện

Qua tình huống truyện, Nguyễn Tuân đã lột tả được mối quan hệ đầy éo le giữa những người tri kỉ, họ là những con người có lí tưởng sống, địa vị xã hội hoàn toàn khác nhau nhưng đều gặp gỡ ở tình yêu với cái đẹp, cái tài. Hai nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục được đặt vào tình thế đối lập, nhưng qua đó làm nổi bật được cốt cách anh hùng cũng như tấm lòng “biệt nhỡn nhân tài” của viên quản ngục.

Câu 2:

a. Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao

Huấn Cao là nhân vật trung tâm của tác phẩm Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã xây dựng nhân vật Huấn Cao với những vẻ đẹp tiêu biểu sau:

+ Là một con người tài năng: thể hiện qua tài viết chữ, những nét chữ rõ ràng, vuông vắn đã nổi tiếng khắp nơi, trở thành đối tượng ngưỡng mộ của rất nhiều người, trong đó có viên quản ngục

+ Là một người anh hùng với bản lĩnh kiên cường, mạnh mẽ hơn người, hơn đời. Huấn Cao đã đứng đầu một cuộc bạo động chống lại triều đình, đây cũng là lí do ông phải nhận án chém và nguyên nhân của cuộc gặp gỡ với viên quản ngục

+ Cùng với viên quản ngục, Huấn Cao là một người có thiên lương trong sáng và cao đẹp, thể hiện ở trong thái độ trân trọng những nhân cách tốt đẹp

+ Là một người có khí phách hiên ngang, kiên cường, đối diện với án chém nhưng Huấn Cao vẫn thể hiện được cốt cách của một người anh hùng, không hề có một chút sợ hãi

b. Quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp

Thông qua việc xây dựng hình tượng Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện được những quan niệm của mình về cái đẹp:

+ Quan niệm về cái đẹp, cái tài

+ Huấn Cao không chỉ là người có tài năng mà còn là một người có thiên lương trong sáng.

+ Mối quan hệ giữa cái đẹp và cái thiện: Đó là mối quan hệ có liên quan chặt chẽ với nhau

Câu 3:

Nhân vật quản ngục hiện lên với những đặc trưng về tính cách, phẩm chất như:

+ Trước hết viên quản ngục cũng là một con người có tài năng, lại có tấm lòng đẹp, biết trân trọng cái tài, cái đẹp. Ngay từ khi mới biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền ông đã có sở nguyện “một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết.

+ Tuy làm việc ở một nơi với bao cạm bẫy, xấu xa nhưng viên quản ngục vẫn giữ được thiên lương trong sáng, thể hiện trực tiếp qua cách đối đãi, ứng xử của ông đối với tên tử tù là Huấn Cao.

+ Mặc dù bị Huấn Cao coi thường nhưng viên quản ngục vẫn dành cho Huấn Cao một sự trân trọng, ngưỡng mộ chân thành, để rồi chính tấm lòng ấy đã lay động con người Huấn Cao, thay đổi suy nghĩ của Huấn Cao.

+ Là người có tấm lòng biệt nhỡn liên tài

+ Là một con người có thiên lương trong sáng, bởi vậy nên khi nghe lời khuyên của Huấn Cao, viên quản ngục đã quỳ xuống và xin bái lĩnh. Tuy câu chuyện kết thúc mở xong người đọc vẫn có thể hình dung ra được tương lai của viên quản ngục, đó là rời xa chốn xô bồ, thị phi, đen tối để bảo vệ thiên lương trong sạch

Câu 4:

Hình tượng nhân vật Huấn Cao có thể nói hiện lên sáng rõ nhất, cao đẹp nhất là trong đêm cho chữ ở ngục tối. Nguyễn Tuân được biết đến là một con người tài hoa, uyên bác, có vốn tiếng việt phong phú lại không ngừng sáng tạo ra những từ mới, không bất ngờ khi ông sử dụng vốn từ của mình vào việc khắc họa sống động nhân vật, tạo nên một cảnh tượng xưa nay chưa từng có trong tác phẩm Chữ người tử tù.

Sở dĩ có thể nói cảnh tượng cho chữ là cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Vì:

+ Cho chữ là một hành động vô cùng thanh cao của các nhà Nho xưa, thông thường không gian cho chữ thường là những nơi thanh tao như: phòng khách, thư phòng…nhưng cảnh cho chữ của Huấn Cao lại hoàn toàn phá vỡ đi quy chuẩn ấy, đó là không gian tù túng, chật hẹp, đen tối của nhà tù.

+ Việc cho chữ cũng không được diễn ra công khai mà được diễn ra lúc nửa đêm, Huấn Cao không muốn mang đến những phiền lụy không đáng có cho viên quản ngục.

+ Huấn Cao một người tử tù đang đợi án chém lại say mê trong từng nét chữ, dường như ở Huấn Cao tỏa ra một thứ ánh sáng chói lòa của một người nghệ sĩ chân chính. Qua đó thể hiện được bản lĩn hơn người ở con người này.

5. Câu 5:

Nguyễn Tuân không quá chú trọng vào việc miêu tả nhân vật mà để nhân vật tự hiện lên trong những khoảnh khắc đặc biệt, do vậy tạo được những nét ấn tượng đặc biệt cho các nhân vật.

Các nhân vật trong Chữ người tử tù tuy có địa vị, hoài bão khác nhau nhưng đều có điểm chung, đó chính là cái tâm trong sáng, đó là biểu tượng của cái đẹp, hướng đến những con người lí tưởng.

Các nhân vật của Nguyễn Tuân tuy chỉ được miêu tả trong những khoảnh khắc nhưng đó là những khoảnh khắc đặc biệt, bởi thế mà họ đều rất ấn tượng.

tiepsucmuathi.edu.vn đã hướng dẫn các bạn soạn văn Chữ người tử tù, hi vọng các bạn đã nắm được kiến thức cơ bản cho mình. Theo dõi chúng tôi để có thêm những tài liệu tham khảo khác nhé!

Kể về một kỉ niệm đáng nhớ nhất thời thơ ấu của em

Cuộc sống lặng lẽ trôi đi, chúng ta cứ thế lớn lên và đều bỏ lại đằng sau những kỉ niệm buồn vui lẫn lộn của một thời ấu thơ đầy ắp tiếng cười. Đâu đó trong cuộc đời của mỗi con người  sinh ra đều ít nhất một lần kể về một kỉ niệm đáng nhớ nhất với những người bạn xung quanh mình.

Mỗi chúng ta đều có một tuổi thơ để nhớ về. Tuổi thơ là nơi có biết bao nhiêu kỉ niệm tươi đẹp bên gia đình, bạn bè và mảnh đất mình lớn lên từng ngày. Không biết khi nhớ về tuổi thơ mọi người sẽ nhớ nhất điều gì. Còn em, có lẽ em sẽ luôn nhớ mãi kỉ niệm đó, kỉ niệm mà có lẽ sau này em sẽ mang theo suốt đời.

Quê em vẫn còn nghèo lắm, chưa có đường bên tông, chỉ có đường đất. Trời nắng thì không sao nhưng khi trời mưa thì lấm bẩn và rất khó đi. Nhưng con đường này lại gắn liền với rất nhiều điều trong tuổi thơ của em. Đây cũng chính là con đường dẫn tới ngôi trường ở phía xa kia, chạy qua một cánh đồng rất lớn.

Mỗi lần trời mưa, chúng em lại xắn quần tới quá đầu gối, tay áo cũng phải xắn vì bụi đất rất bẩn. Những bạn nào đạp xe cũng không thể đi nổi qua con đường lầy lội, trơn trượt ấy được. Thế mà có nhiều bạn vẫn đánh liều đạp xe, trong đó có em nữa. Năm đó em học lớp 3, mưa như trút, mưa xói còn con đường, lớp bùn đất nhầy nhầy lội phải quá mắt cá  chân. Cán bộ mới chủ trương đổ đất làm đường nên khi mưa chắc chắn không tránh khỏi lấm bẩn như thế này.

Hôm đó em và 3 đứa hàng xóm cùng đạp 4 cái xe, oai phong vượt qua con đường nguy hiểm này. Tưởng chừng chúng em sẽ vượt qua nhưng ai ngờ mới đạp được vài vòng thì thằng Tý ở phía trước ngã lộn xuống đường. Cái áo trắng tinh và cái quần màu xanh vừa mặc lúc sáng không biết biến thành màu gì. Đáng buồn cười nhất là cái mặt lấm lem, còn nó thì mếu. Em và hai đứa còn lại thấy thằng Tý ngã không ngậm được miệng cười.

Có lẽ vì mải cười quá nên cả ba đứa bọn em ngã cùng lúc. Lúc đấy cả 4 đứa nhìn nhau, ngơ ngác và cười rũ rượi. Không đứa nào nhận ra đứa nào vì lấm lem kinh khủng. Cái cặp của em may mắn nó té xuống ruộng nên không bị lấm bùn, chỉ ướt ở bên ngoài.

Còn 3 đứa còn lại, mặt mũi đứa nào cũng lem luốc, quần áo thì không còn chỗ nào sạch sẽ, chiếc cặp đã cũ nay lại được nhuộm bùn không thể có từ nào để diễn tả được nó.

Vậy là buổi học hôm đó chúng em tới muộn 1 tiết vì phải về nhà thay quần áo. Vậy mà đứa nào cũng rất vui vẻ tươi tỉnh, dù không ai sạch sẽ. Có lẽ đây là kỉ niệm mà sau này ai nhớ lại cũng thấy buồn cười và muốn tìm lại khoảnh khắc đó. Bây giờ đường sá đã được làm bằng bê tông, nên chuyện mưa lớn cũng không thể ngập bùn như thế được

Ngày nay, khi cuộc sống được đổi mới từng ngày, những con đường rải nhựa thẳng tắp, những triền đê được xây lên cao. Chẳng còn cảnh bùn lầy lội như xưa, chẳng còn các cô bé cậu bé mặt lem luốc bùn vì những ngày trời mưa tầm tã.

Đã nhiều năm trôi qua nhưng mỗi lần trời mưa, những lần nhìn cảnh học sinh đi trong mưa, 4 đứa ngồi nhớ lại ai cũng cười và thoáng trong đó nỗi buồn rười rượi. Vì có lẽ giây phút này không trở lại nữa.

Em đã kể về một kỉ niệm đáng nhớ nhất thời thơ ấu của em, một kỉ niệm mà em nhớ mãi trong suốt cuộc đời này, nơi có một tình bạn thật hồn nhiên và trong sáng, nơi đã có những nụ cười ngây thơ của một tuổi thơ thật đẹp.

Top 10 bài văn hay thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

Top 10 bài văn hay thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, Sáu mươi tư tỉnh thành trên đất nước Việt Nam, mỗi tỉnh thành đều mang mỗi nét đặc trưng riêng mỗi bản sắc riêng và tất nhiên sẽ có những danh lam thắng cảnh nổi tiếng riêng của từng vùng đất đó. Danh lam thắng cảnh đã đi vào trong trí tưởng tượng của mỗi con người bằng những lời ca tiếng hát, bằng những trang thơ chất phác mà nên thơ.

Cùng tham khảo những bài văn mẫu dưới đây để có một bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh tuyệt vời cho mình các bạn nhé!

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở quê em

Bài 1: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long

Tôi may mắn được sinh ra trên vùng đất Quảng Ninh xinh đẹp nơi có rất nhiều những danh lam thắng cảnh riêng. Nói đến Quảng Ninh chúng ta không thể không nhắc đến một địa danh nổi tiếng nơi đây đó chính là Hạ Long. Các bạn hãy cùng theo chân tôi lên đường để đến với danh lam đặc sắc này nhé.

Theo truyền thuyết xa xưa, một vài gia đình rồng nhà trời, đứng đầu là một con rồng mẹ bay tới vùng Long Đồ (rốn rồng) thuộc phường Hà Khẩu ở Đông Đô. Được ngày lành tháng tốt, gia đình nhà rồng bay cả lên bầu trời, ca ngợi cảnh thái bình và phồn vinh. Rồi rồng bay xuống vịnh Hạ Long là nơi đắc địa, có phong cảnh diệu kì. Ở đây, rồng thiêng phun ra muôn ngàn những viên châu ngọc và sinh ra nhiều rồng con. Những viên châu ngọc đó trở nên những hòn đảo trong vịnh. Vịnh nhỏ Bái Tử Long là vịnh của những đàn rồng con chầu về mẹ rồng. Theo truyền thuyết xa xưa, một vài gia đình rồng nhà trời, đứng đầu là một con rồng mẹ bay tới vùng Long Đồ (rốn rồng) thuộc phường Hà Khẩu ở Đông Đô. Được ngày lành tháng tốt, gia đình nhà rồng bay cả lên bầu trời, ca ngợi cảnh thái bình và phồn vinh. Rồi rồng bay xuống vịnh Hạ Long là nơi đắc địa, có phong cảnh diệu kì. Ở đây, rồng thiêng phun ra muôn ngàn những viên châu ngọc và sinh ra nhiều rồng con. Những viên châu ngọc đó trở nên những hòn đảo trong vịnh. Vịnh nhỏ Bái Tử Long là vịnh của những đàn rồng con chầu về mẹ rồng.

Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động. Đó là những tác phẩm tạo hình tuyệt mỹ, tài hoa của tạo hoá, của thiên nhiên biến hàng ngàn đảo đá vô tri tĩnh lặng kia trở nên những tác phẩm điêu khắc, hội họa hoàn mỹ với muôn hình dáng vẻ yêu kiều, vừa rất quen thuộc vừa như xa lạ với con người. Hàng ngàn đảo đá nhấp nhô trên sóng nước lung linh huyền ảo, vừa khỏe khoắn hoành tráng nhưng cũng rất mềm mại duyên dáng, sống động. Đi giữa Hạ Long với muôn ngàn đảo đá, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hóa đá nơi đây. Đảo thì giống hình ai đó đang hướng về đất liền – hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước – Hòn Rồng; đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá – hòn Lã Vọng; và kia hai cánh buồm nâu lực lưỡng đang rẽ sóng nước ra khơi – hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước – hòn Trống Mái; đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất – hòn Lư Hương. . . Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn – nơi có thương cảng cổ sầm uất vào thế kỷ thứ 12; có núi Bài Thơ lịch sử; cách đó không xa dòng sông Bạch Đằng – là chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của các thế hệ ông cha chống giặc ngoại xâm. Không chỉ có vậy, Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền Văn hoá Hạ Long huy hoàng thời Hậu kỳ đồ đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng.

Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới. . . Với hàng ngàn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng như tôm, cá, mực. . . Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.  Đảo Ba Mùn là một hòn đá đảo rừng nguyên sinh, xanh ngợp cây đại ngàn. Nơi đây không hiếm các loại cây, cỏ làm thuốc quý như: ngũ gia bì, đằng đằng, ngưu tất, tam thất… Trên các đảo của vịnh có đủ các loại sơn cầm, dã thú như vượn, khỉ, sơn dương, kì đà, bói cá, hươu sao, sóc bay, đại bàng, cò lửa, chim xanh, chim gõ mõ…

Bãi Cháy là dải bờ biển nằm ở phía tây bắc Vịnh Hạ Long, là một bãi tắm trải dài, uốn khúc. Nơi đây mọc lên nhiều khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ. Các cửa hàng buôn bán sầm uất ngay bên cạnh bãi biển. Đi phà chừng 15 phút, sẽ tới Thành phố Hạ Long có mùi cá và mùi than. Đi về phía bên trái một chút là đến đảo Khỉ. Khách có thể đến thăm nơi sinh sống của gần 2000 con khỉ. Chúng kéo nhau đi nhận phần cơm khi có tiếng kẻng báo giờ ăn. Xem chúng bồng con bế cái, đùa giỡn, chòng ghẹo nhau. Chúng cũng vui, giận, yêu, ghen…

Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản thiên nhiên, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.
Đến với Hạ Long bạn không những sẽ cảm nhận được tất cả cái hay cái đẹp của thiên nhiên nơi đây mà bạn còn có thể cảm nhận được cái chân chất thật thà lương thiện của người dân nơi đây. Tất cả chắc chắn sẽ cho bạn một buổi du lịch rất có ý nghĩa và đầy sự lí thú.

Bài 2: Thuyết minh danh lam thắng cảnh chùa Hương

Chắc hẳn ai cũng biết đến chùa Hương một danh lam thắng cảnh của Việt Nam. Hằng năm cứ đến mùng sáu tháng giêng sau tết Nguyên Đán nơi đây lại tổ chức lễ hội chùa Hương. Khách hành hương từ khắp mọi miền đất nước, việt kiều, du khách nước ngoài nườm nượp đổ về đây vừa để cầu mong một điều tốt lành vừa để đắm mình trong khung cảnh thần tiên của Hương Sơn.

Chùa Hương thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội khoảng 70 km về phía tây nam. Từ đây đi ô tô qua thị xã Hà Đông, Vân Đình, thẳng đến bến đục thì dừng. Du khách xuống đò, lướt theo dòng suối Yến Vĩ trong xanh giữa hai bên là cánh đồng lúa. Trước mắt là những dãy núi trùng điệp đẹp vô cùng!

Có thể nói cái đẹp của Hương Sơn được tạo nên từ bàn tay khéo léo kì công của con người và sự ban tàng của mẹ thiên nhiên. Các ngôi chùa được xây rải rác trên triền núi đá vôi, thấp thoáng bên dưới là những rừng cây xanh thẳm. Từ chân núi đi ngược lên hàng ngàn bậc đá cheo leo,hành khách sẽ thắp nhang ở chùa ngoài rồi vào chùa trong, lên chùa Giải Oan, chùa Thiên Mụ,với đọng hinh bồng, động Hương Tích. Chùa nào cũng cổ kính uy nghi ẩn hiện trong làn mờ mờ ảo ảo, tạo nên một bầu không khí huyền bí linh thiêng.Mỗi người đến đây đều mang theo một riêng nhưng tất cả mọi người đều cảm thấy trút bỏ được vướng bận hằng ngày, tất cả đều lâng thoải mái.

Trên con đường đóc quanh co, dòng người nối đuôi nhau, già trẻ, gái trai đủ mọi lứa tuổi, miền quê. Tất cả mọi người đều có được sự thân quen như người trong nhà trước câu “Nam mô A Di Đà Phật ”. Hương Sơn có rất nhiều động nhưng lớn nhất, kì thú nhất phải nói đến động Hương Tích. Lên đến đây, mọi mệt nhọc đều tan biến hết, trong lòng lâng lâng niềm hứng khởi. nơi đây hoa mơ nở trắng như tuyết điểm, hương thơm thoang thoảng trong gió. Tiếng chim ríu rít, tiếng suối róc rách lúc gần lúc xa. Đứng trên cửa động, du khách hít căng lồng ngực không khí thơm, trong lành.

Được chúa Trịnh Xâm ca ngợi là “Nam Thiên đệ nhất động”. Từ bên ngoài, cửa động như miêng một con rồng khổng lồ ăn sâu vào trong lòng núi. Đáy rộng và phẳng có thể chứa được mấy trăm người. Ánh đèn nến lung linh huyền ảo. Những nhũ đá, cột muôn hình vạn trạng, lấp lánh bảy sắc cầu vồng.

Muốn tham quan được hết chùa Hương phải mất mấy ngày mới thăm hết được. Ngồi trong động Hinh Bồng, lắng tai nghe tiếng gió tạo thành tiếng nhạc du dương trầm bổng ta sẽ được đắm mình vào trong cõi mộng. Trên đỉnh núi có một tảng đá lớn tương truyền đó là bàn cờ tiên. Mỗi năm một lần nơi đây các vị tiên ông thương hay đánh cờ đọ tài cao thấp ở đó. Còn có biết bao những sự tích, huyền thoại gắn liền với chùa Hương, tạo thêm cho vẻ kì bí linh thiêng của chốn phong cảnh hữu tình này.

Khi đi về, trong tay ai cũng đều mang về một thứ gì đó làm kỉ niệm. Du khách lên xe mà lòng bâng khuâng lưu luyến, không ai bảo ai mỗi người đều quay lại ngắm nhìn để in đậm những kỉ niệm về chùa Hương càng thêm tự hào về giang sơn gấm vóc mong sớm đến năm sau để lại có dịp tới thăm chùa Hương một lần nữa.

Bài 3: Thuyết minh danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long – Quảng Ninh

Không rõ từ bao giờ cả một vùng non nước kì thú phần phía Bắc Việt Nam này lại mang tên Vịnh Hạ Long chỉ biết rằng cái tên gắn liền với chủ quyền đất  và thấm đẫm chất sử thi. Vâng nói đến vịnh Hạ Long thì không một con dân nào trên đất nước Việt Nam này là không biết đến.Đây chính là một niềm tự hào của dân tộc Việt Nam đối với bạn bè thế giới bởi cảnh vật nơi đây độc đáo đến lạ thường.

Chuyện kể rằng không rõ từ thời nào một lần giặc ngoại xâm định xanh bằng đất nước Việt Nam nhỏ bé.May thay trời sai một đàn rồng xuống giúp để dẹp giặc. Rồng mẹ cùng rồng con phun ra châu ngọc.Châu ngọc ấy xếp thành muôn vàn đảo đá ngọc thạch.Chỗ thì kết lại như bức tường thành, chỗ lại chìa ra như trận địa ngăn quân xâm lược.Giặc tan rồng mẹ và rồn g con không về trời mà ở lại trần gian in dấu chiến công đánh giặc. Chỗ rồng mẹ xuống gọi là Hạ Long, chỗ rồng con xuống gọi là Bái Tử Long, chỗ đuôi rồng chìa ra gọi là Bạch Long Vĩ và chiến tích hiện hữu biểu hiện cho sức mạnh, sự cao quý của kho sử thi ấy. Ngày nay đã trở thành báu vật vô giá nhất, kì quan độc nhất vô nhị của cả hành tinh.

 Vào lúc 17h17 phút ngày 14/12/1994 tại khách sạn Le Merdlen thành phố Phuket-Thái Lan hội đồng di sản thiên nhiên thế giới tại kì họp lần thứ 18 với số phiếu tuyệt đối 100% đã biểu quyết công nhận Vịnh Hạ Long của Việt Nam vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới .Thế là từ giờ phút này bản danh mục di sản thiên nhiên thế giới lại có thêm Vịnh Hạ Long .Tháng 11/2000 Vịnh Hạ được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
Điểm đến đầu tiên của du khách khi đến đây là đảo Đầu Gỗ cách bến cảng khoảng chừng 4 km. Nếu đi tàu sẽ mất khoảng 25 phút sẽ được chiêm ngưỡng các động nổi tiếng nhất của di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long .Đó là động Thiên Cung và hang Đầu Gỗ là hai hang động mà du khách nào khi đến đây cũng không thể bỏ qua.Động Thiên Cung là một trong những hang động khổng lồ và nổi tiếng nhất vịnh Hạ Long và có nhiều người biết đến,những gì nhìn thấy trong hang động đều khiến con người kinh ngạc và sững sờ từ đầu đến cuối hang động khiến du khách không tin vào mắt mình.Mới hay Hạ Long đậm chất tuyệt vời ở sông nước và cả đất trời.Nếu chỉ đi từ bên ngoài những người mới đến thật khó có thể biết rằng nằm trong hàng trăm ,hàng ngàn những núi đá lặng lẽ thăng trầm mão rủ bóng xuống biển xanh kia là không biết bao nhiêu các hang động lớn nhỏ .Mỗi lâu đài là một kiến trúc vô cùng tinh sảo của tạo hóa .Có những hang động đã được lưu vào lịch sử hàng trăm triệu năm.

Động Thiên Cung có cấu trúc rất phức tạp gồm ngăn bờ vách cao cửa động chỉ nhỏ bằng mảnh chiếu bị khuất lấp bởi cây xanh có độ cao 25m. Hiện nay để du khách dễ dàng thăm động người ta đã cho xây hẳn một hành lang với hệ thống cầu thang đẹp và những đèn chiếu sáng đẹp mắt.Trong hang động đâu đâu cũng thấy vô vàn các hang động cùng những hình dạng kì lạ khiến cho du khách có thể thỏa sức cho trí tưởng tượng bay bổng.Trên vách động Đông và Tây là hai bức tranh hoành tráng và đồ sộ .Nơi này là nơi voi phụng ngựa phi nơi kia là những chiến binh giáp mã với đao kiếm sáng loáng tua tủa.Trung tâm động là bốn cột trụ to lớn lực lưỡng chống đỡ thiên đình .Chân cột đến đỉnh cột được chạm những hình thù kì lạ như chim cá hoa lá, cảnh sinh hoạt của con người.Bước lên trên trần sang phía đông ta bàng hoàng bắt gặp một hình tượng sống động nơi Thiên giới nào là ngọc hoàng,thiên lôi,nào là nam tào bắc đẩu nào là những nàng tiên nữ lộng lẫy dáng đi thướt tha đang mải mê múa hát .Treo lơ lửng trên cầu thang là cây gậy đá thần kỳ của Tôn Ngộ Không. Mỗi vách đá dường như là một kiệt tác,bức tranh hoành tráng của một nhà điêu khắc tài ba. Dưới vòm động vút cao trong bầu trời nhũ xanh như nước ngọc ta cảm thấy như lạc vào chốn thiên nhiên bồng lai tiên cảnh.Hang Đầu Gỗ có đáy hang thấp hơn cửa hang tới 8m lối hành lang được dựng lên theo lối hành lang bằng gỗ dựng ngoằn nghèo theo vách núi khiến ta có cảm giác mình như đang lạc vào lối trong hang núi .Năm 1962 vịnh hạ long đã được bác hồ ghé thăm và hang đầu Gỗ được bác trầm trồ khen ngợi về vẻ đẹp hoang sơ kỳ thú cũng như nét huyền ảo nơi đây.

Từ trên cao nhìn xuống vịnh Hạ Long như một bức tranh thủy mặc khổng lồ vô cùng sống động.đảo thì giống như ai đó đang hướng về phía đất liền ,đảo thì giống như một con rồng khổng lồ giữa sóng nước mênh mông.Những điều kì diệu ấy biến hóa không ngừng theo mỗi góc nhìn khác nhau
Một ngày lênh đênh trên biển Hạ Long khiến ta có cảm giác lạ lùng và xao xuyến trước không gian tĩnh lặng thấp thoáng mờ tỏ sau làn sương mong manh là những đỉnh núi xanh lam .Thiên nhiên khiến tâm hồn ta như được thư thái tràn ra và chìm ngập vào bầu trời không gian trong cõi xa xôi .Bất giác ta như lớn thêm,có chút suy nghĩ sâu sa hơn về cuộc sống về triết lí cúa cuộc sống để ta trân trọng yêu quý những gì mà ta đang có.

Về phong tục văn hóa nhân dân làng chài trên vịnh Hạ Long họ vẫn truyền nhau những câu hát giao duyên cổ xưa mượt mà đằm thắm không kém gì những làn điệu trao duyên của quan họ Bắc Ninh.Họ hát trong những ngày rằm người dân không đi đánh cá.Người dân trên vịnh nhiệt tình hài hòa tốt bụng và làm quen với họ là một việc đơn giản.Điều đó sẽ rất giúp ích cho bạn khi muốn tham quan du lịch tại  đây.

Hiện nay vấn đề bảo tồn di tích lịch sử vịnh Hạ Long đang là vấn đề cấp thiết hàng đầu.Chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã và đang dùng những biện pháp mạnh để bảo vệ vịnh Hạ Long như phạt mạnh khi vứt rác xuống vịnh.Bên cạnh đó cũng đưa ra các phong trào để người dân và khách tham quan cùng làm sạch vịnh góp phần tô điểm cho vịnh Hạ Long.Tại vịnh rất nhiều người dân đặc biệt là các sinh viên học sinh đã có ý thức rất tốt khi thực thiện rất nhiều cuộc ra quân để làm trong lành vịnh Ha Long.

Vịnh Hạ Long sẽ mãi là điểm đến thu hút khách tham quan bởi những nét kiến trúc độc và lạ khó có một nơi nào trên thế giới có được.Vịnh Hạ Long vẫn sẽ mãi là niềm tự hào của người dân Việt Nam đối với bạn bè năm châu để Việt Nam sẽ là một điểm đến thu hút khách du lịch thế giới.

Bài 4: Thuyết minh danh lam thắng cảnh bến Ninh Kiều – Cần thơ

Câu hát bâng khuâng đưa ta về một miền Nam Bộ, nơi có những thiên cảnh làm vướng bận bao tao nhân mặc khách. Cần Thơ nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, giữa một mạng lưới sông ngòi kênh rạch.

Cần Thơ gạo trắng nước trong 
Ai đi đến đó lòng không muốn về.

Cần Thơ tiếp giáp với 6 tỉnh: bắc giáp An Giang và Đồng Tháp, nam giáp Sóc Trăng, Bạc Liêu, tây giáp Kiên Giang, đông giáp Vĩnh Long. Cần Thơ có nhiều hệ thống sông ngòi kênh rạch như sông Hậu, sông cần Thơ, sông Cái Tư, sông Cái Sàn, kênh Quản Lộ, kênh Phụng Hiệp, kênh Xã No. Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh là quốc lộ 1A, quốc lộ 80, quốc lộ 91. Cần Thơ là trung tâm giao thông thủy bộ của cả vùng Nam Bộ, nối liền với Campuchia, có bến cảng khá lớn tiếp nhận tàu 5000 tấn, có sân bay Trà Nóc nằm bên bờ sông Hậu. Từ xa xưa, Cần Thơ đã được coi là trung tâm của lúa gạo miền Tây Nam Bộ, hiện nay là một trong những tỉnh  sản xuất và xuất khẩu lúa gạo chính của cả nước. Với đất đai phì nhiêu, bên cạnh thế mạnh về cây lúa và cây ăn quả các loại, cần Thơ còn có nguồn thủy sản khá phong phú, chủ yếu là tôm cá nước ngọt (hơn 5000 ha ao nuôi tôm cá nước ngọt) và chăn nuôi heo, gà, vịt. Các ngành công nghiệp hiện có chủ yếu là điện năng (nhà máy điện Trà Nóc: 33000kw), kĩ thuật điện, điện tử, hóa chất, may, da và chế biến nông sản, thủy sản…là thế mạnh của tỉnh.

Xứ sở ấy là của những con người hào phóng, các tài tử giai nhân cần Thơ. Họ luôn tự hào và kiêu hãnh khi nhắc đến bến Ninh Kiều:

“Cần Thơ có bến Ninh Kiều
Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân”

Xưa, bến Ninh Kiều là một bến sông đầu chợ cần Thơ. Ninh kiều ngày ấy tấp nập thuyền bè qua lại giao thương, hàng cây dương chắn gió ven bờ đã trở thành tên gọi của bến sông: bến Hàng Dương. Công việc giao thương ngày thêm phồn thịnh, bến Hàng Dương do đó cũng được mở rộng và sửa sang, rồi dần trở thành một thắng cảnh của đất Tây Đô. Sau 1958, bến này chính thức được đặt tên là bên Ninh Kiều. Dân gian truyền tụng rằng xưa, tại Ninh Kiều vào nhũng đêm trăng sáng, thuyền bè tấp nập, tài tử giai nhân cùng nhau lĩnh xướng thơ ca, do vậy bến này còn gọi là bến Cầm Thi, cầm Thi đọc trại là Cầm Thơ, rồi sau trại ra thành cần Thơ, là tên của đất cần Thơ xưa nay vậy. Nay, Ninh Kiều là quận trung tâm của thành phố cần thơ. Theo Nghị định số 05/ 2004/ NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ, quận Ninh Kiều được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của phần lớn các phường nội thành của thành phố Cần Thơ cũ gồm Cái Khế, An Hòa, Thới Bình, An Nghiệp, An Cư, An Hội, Tân An, An Lạc, An Phú, Xuân Khánh, Hưng Lợi và xã An Bình (thuộc thành phố Cần Thơ cũ). Quận Ninh Kiều có gần ba ngàn hecta diện tích tự nhiên (2.922.04ha) và 206.213 nhân khẩu (năm 2004).

Người Cần Thơ luôn tự hào với bến Ninh Kiều, nơi bờ sông nhìn ra dòng Hậu Giang hiền hòa, thơ mộng. Bến Ninh Kiều là một địa điểm mà du khách hay tìm đến, nằm bên hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông Hậu và sông cần Thơ, gần trung tâm thành phố cần Thơ. Trên bến sông, thuyền bè luôn qua lại tấp nập, chở đầy những sản vật vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên bến Ninh Kiều là cảng cần Thơ, cảng này được xây dựng hiện đại có khả năng tiếp nhận trọng tải 5.000 tấn, gần bến Ninh Kiều có chợ cần Thơ, một trung tâm buôn bán lớn ở miền Tây Nam Bộ. Thời gian đắp đổi khôn lường như dòng sông Hậu hiền hòa trôi xuôi. Ninh Kiều nay là niềm tự hào của dân cần Thơ, đây không chỉ là nơi các thương buôn tìm đến, mà còn là nơi các tao nhân mặc khách bao lần bịn rịn, lưu luyến bến Hàng Dương:

” Đất Châu Thành anh ở
Xứ Cần Thơ em về
Bấy lâu sông cạn biển thể
Phân tay mai trúc, dầm dề cuộc châu”

Thật chẳng quá lời nếu ta nói Ninh Kiều là một kho trái cây đầy ắp, bởi liền kề với bến sông lại là nơi tập trung những quả ngon, vật lạ của Nam Bộ như xoài tượng, xoài thanh ca, xoài giòn của Cao Lãnh, vú sữa trắng, quít đường của cần Thơ, măng cụt/ sầu riêng hay bưởi Biên Hòa, mít tố nữ Bà Rịa – Vũng Tàu, nhãn Bạc Liêu, cam mật Sa Đéc .. .Cần Thơ hôm nay có nhiều nét đổi thay, là một thành  phố năng động, trẻ trung, Tây Đô, một danh xưng đầy tự hào của thành phố Cần Thơ, nay được đặt trong khu công nghiệp, bến Ninh Kiều vẫn từng ngày chung ánh ban mai, chung những buồn vui hay lo toan vất vả… từ đó, lời thơ, tiếng hát vẫn ngày ngày cất lên….:

Cần Thơ ngày tôi đến
 Mưa nhạt nhòa phố sông 
Đường mênh mông gió lộng
 Tự hỏi người biết không?

Cần Thơ ngày anh xa 
Có mắt ai lệ nhòa?
Có biết em chờ đợi 
Dù một lần người qua?

Ai đi về Cần Thơ 
Cho tôi hỏi bao giờ
 Bước chân yêu chung nhịp
 Trên Ninh Kiều mộng mơ?

 

Những bài thuyết minh về một  danh lam thắng cảnh trên đây hi vọng đã mang lại cho bạn những ý tưởng mới mẻ và thú vị, đồng thời giúp các bạn biết thêm được nhiều địa danh nổi tiếng trên đất nước Việt Nam xinh đẹp của chúng ta. 

Hướng dẫn soạn bài Rừng xà nu chi tiết cho học sinh

tiepsucmuathi.edu.vn sẽ hướng dẫn các bạn cách soạn bài Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành một cách chi tiết và cụ thể để các bạn có một bài soạn hoàn chỉnh và hiểu rõ hơn.

Rừng xà nu là một truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành được viết năm 1965. Trong tác phẩm, với hình tượng cây xà nu và những “anh hùng dân tộc” ở làng Xô Man trong thời chiến tranh Việt Nam, Nguyễn Trung Thành đã làm nổi rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1979. 

Tóm tắt

Truyện kể về làng Xô Man ở Tây Nguyên nằm giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn, đang từng ngày hứng chịu những trận đại bác của đồn quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau ba năm tham gia lực lượng Việt Cộng, Tnú trở về thăm làng. Thằng bé Heng dẫn đường cho Tnú vì đường vào làng nay đã bố phòng nghiêm ngặt: hầm chông, hố chông, dàn thò chằng chịt…

Đêm đó, Tnú ăn cơm và ở lại nhà cụ Mết. Cả làng tụ họp, Dít kiểm tra giấy phép xong, cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe về việc đấu tranh của làng – nó gắn bó với cuộc đời Tnú.

Hồi ấy, bị Quân lực Việt Nam Cộng hòa tấn công, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ Việt Cộng (Quyết). Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho Quyết, rồi được Quyết dạy chữ.

Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện, Tnú bị địch phục bắt, bị tra tấn nhưng anh không khai. Ở tù ba năm, Tnú vượt ngục, trở về làng thay anh Quyết chỉ huy buôn làng chuẩn bị vũ khí chiến đấu và cưới Mai.

Tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai địch. Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp. Cụ Mết, Tnú cùng thanh niên lánh vào rừng. Không bắt được Tnú, địch bắt Mai cùng với đứa con nhỏ chưa đầy tháng.

Từ vị trí ẩn nấp, Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị địch đánh đập. Sôi sục căm thù, Tnú nhảy xổ vào cứu vợ nhưng rồi Mai và đứa con đã chết, anh cũng bị bắt… Địch tẩm nhựa Xà nu đốt mười đầu ngón tay Tnú trước mặt dân làng.

Tnú chịu đựng không kêu la. Có tiếng động xung quanh, Tnú thét lên một tiếng, dân làng đồng thanh, nhất tề nổi dậy, Dục và quân địch đã bị cụ Mết và thanh niên tiêu diệt sạch. Làng Xô Man giành phần thắng. Tnú gia nhập quân Việt Cộng. Tnú đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ, được cấp chỉ huy cho về phép thăm làng một đêm.

Sáng hôm sau, cụ Mết, Dít tiễn Tnú lên đường. Họ chia tay nhau ở đồi xà nu, cạnh con nước lớn.

Cây xà nu

Cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành thực chất là cây thông ba lá, xà nu cũng như tên làng Xô Man trong tác phẩm đều là tên gọi do tác giả hư cấu ra. Nguyên mẫu ngoài đời thực của làng Xô Man trong truyện ngắn Rừng xà nu là một ngôi làng của người Giẻ Triêng có tên là làng Xốp Dùi. Nhựa cây thông ba lá được người Giẻ Triêng dùng để đốt thắp sáng vào ban đêm. Trong tiếng Giẻ Triêng cây thông ba lá được gọi là loong rúh

Người dân của làng Xốp Dùi xưa đã thay đổi chỗ ở nhiều lần, hiện nay họ định cư tại làng Xốp Nghét, xã Xốp, huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum.

Bố cục: gồm 3 phần

– Đoạn đầu: Hình ảnh rừng xà nu

– Phần chữ nhỏ: Câu chuyện Tnú sau ba năm đi lực lượng về thăm làng.

– Còn lại: Câu chuyện về cuộc đời bi tráng của Tnú và câu chuyện chiến đấu của dân làng Xô Man được cụ Mết kể lại.

Câu 1: Ý nghĩa truyện qua:

– Nhan đề tác phẩm:

+ Rừng xà nu: ẩn chứa khí vị, Tây Nguyên, gợi nên vẻ đẹp hùng tráng, sức sống bất diệt … => Rừng xà nu mang nhiều tầng ý nghĩa bao gồm cả thực lẫn tượng trưng => chứa đựng cảm xúc nhà văn và linh hồn tác giả.

– Cảnh rừng xà nu dưới tầm đại bác: hứng chịu mọi sự hủy diệt của đạt bác Mĩ, đầy thương tích, chết choc nhưng vẫn giàu sức sống, vươn lên => biểu tượng cho cuộc sống và phẩm chất cao đẹp của dân làng Xô Man.

– Rừng xà nu, đồi xà nu trải dài … => sự tiếp nối, bền vững, trường tồn, không gì hủy diệt được => tượng trưng cho sức sống của đất nước và nhân dân mãi trường tồn.

Câu 2:

a. Người anh hùng mà cụ Mết kể chính là Tnú. Phẩm chất, tình cách của người anh hùng Tnú:

– Gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực (khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết).

– Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc).

– Số phận đau thương: không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đối mười đầu ngón tay)

– Quật khởi đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt bọn ác ôn.

– Tnú may mắn hơn so với thế hệ đàn anh của mình như anh hùng Núp và A Phủ:

+ Không phải sống kiếp tội đòi cam phận, cam chịu.

+ Được thừa hưởng phong trào cách mạng từ cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

+ Được giác ngộ lí tưởng cách mạng ngay từ tuổi nhỏ.

b. Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con“. Cụ Mết nhắc tới bốn lần để nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người thương yêu nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất; chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế máu xương, tính mạng của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí ấy phải ghi tạc vào xương cốt, tâm khảm và truyền lại cho thế hệ tiếp nối.

c. Câu chuyện Tnú với dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do“. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí và hi sinh tính mạng.

d. Vai trò của các nhân vật:

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô Man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung.

– Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.

– Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

Dường như cuộc chiến khốc liệt này đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải có sức trỗi dậy của một Phù Đổng Thiên Vương.

Câu 3:

Hình ảnh cánh rừng xa nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu làm biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, dạn dày, bất khuất, trung kiên … của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man.

Câu 4: Nghệ thuật

– Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng. Chất sử thi toát lên qua đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ của tác phẩm:

– Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô man chống Mỹ Diệm.

– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng. Rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc (Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).

– Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại.

– Kết cấu vòng tròn: Mở đầu, kết thúc là hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách.

– Cách trần thuật: Chuyện về sự nổi dậy của dân làng và cuộc đời Tnú được kể lại trong một đêm anh về thăm làng, qua lời cụ Mết, bên bếp lửa bập bùng – Giọng kể trang trọng như truyền cho thế hệ con cháu những trang sử bi thương và anh hùng của cộng đồng. Chuyện về thời hiện tại được kể bằng giọng điệu và ngôn ngữ sử thi.

Rừng xà nu là một trong những tác phẩm đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả, gấp lại những trang sách ta vẫn mường tưởng được về những cánh rừng xà nu bạt ngàn với những con người kiên cường và dũng cảm.  Với những kiến thức mà tiepsucmuathi.edu.vn cập nhật mong rằng các bạn đã có một cách soạn bài rừng xà nu thật tốt. 

Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi với bạn

Cuộc sống không thể nào hoàn mỹ và con người chúng ta cũng không thể nào hoàn hảo. Chúng ta sinh ra, lớn lên và khi trở về với cát bụi có lẽ vẫn chưa thể nào hoàn thiện được bản thân mình. Ai trong chúng ta cũng đều từng mắc lỗi với ba mẹ, anh chị hay đến cả những người bạn xung quanh chúng ta dù chỉ là một lỗi nhỏ.

Tham khảo  những bài văn mẫu hay dưới đây kể về một lần em có lỗi với bạn để xem có ai từng như vậy không nhé!

Bài làm 1:

Mấy năm trước, khi tôi vừa rời khỏi tiệm game cùng với lũ thằng Giang, thằng Trí, bọn tôi bước ra đường thì gặp thằng Quy-đứa bạn cùng trường với chúng tôi. Nó đang ngồi đếm tiền với một vẻ say mê, đôi mắt nó ánh lên niềm vui khó tả. Tôi chợt reo lên: “A! Chắc thằng này vừa chôm tiền của bố mẹ đây”. Rồi bọn tôi khích nhau xem đứa nào lấy được tiền của nó. Tất nhiên là tôi rồi, vì tôi “mạnh mẽ, dũng cảm” nhất mà. Thế là tôi chạy lại giật xấp tiền của nó rồi cả bọn cùng nhau chạy trốn và chia nhau. Rồi cho đến một hôm, tôi gặp lại nó, từ đằng xa thôi. Tôi không dám tin vào mắt mình, thằng Quy đang đứng trước cửa hàng đồ chơi, nó chỉ dám đứng nhìn qua cửa kính, ngập ngừng, trên lưng còn cõng thằng anh bị bệnh tật ngớ ngẩn, lưng nó oằn xuống, dường như không chịu nổi sức nặng quá lớn. Tôi bước nhẹ nhàng lại gần nấp vào bức tường bên cạnh và lắng nghe: “Tiếc quá anh nhỉ? Giá như còn số tiền đó, em sẽ mua cho anh chiếc xe tăng đằng kia, nhưng không sao, chỉ một tuần rửa chén thuê, em sẽ có tiền mua cho anh thôi mà”. Thằng anh cười hì hì, một cách hồn nhiên rồi nhắc lại “xe tăng, xe tăng”. Còn tôi đứng nép vào góc tường, tự dưng tôi thấy mình có tội.

Tôi bỏ chạy về nhà mà rơm rớm nước mắt. Lúc này, sao tôi cảm thấy xấu hổ quá! Chao ôi! Giá mà tôi đừng lấy tiền của nó thì bây giờ nó có thể… hic… tôi muốn gặp mặt thằng Quy quá, tôi muốn nhìn thấy nó chăm sóc người anh bệnh tật, chia sẽ với nó những nặng nề, thiếu thốn trong cuộc sống. Và tôi sẽ cố gắng dành dụm một số tiền trả cho nó để bù đắp phần nào lỗi lầm mà tôi đã gây ra.

Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi

Bài làm 2:

Ngày hôm ấy, là sinh nhật bạn. Bữa tiệc ấy có lẽ sẽ rất vui nếu như không có chuyện đó xảy ra. Trước khi buổi tiệc bắt đầu, tôi là người đến sớm nhất để giúp bạn trang hoàng tiệc. Sau khi trang trí xong, tôi lên phòng Trân nghỉ xả hơi và bật nhạc nghe. Khi nằm lên giường, cảm thấy có gì cồm cộm dưới gối, tôi liền lấy ra xem thì ra đó là nhật kí của Trân tranh thủ lúc Trân còn đang ở dưới lầu tôi đọc lướt qua cuốn sổ. Tôi giở ra từng trang thích thú đọc những dòng chữ hiện ra trước mắt. Quá chăm chú đọc nên tôi không biết rằng Trân đã đứng đó từ lúc nào, gói bánh trên tay bạn rơi xuống. Nụ cười trên môi vụt tắt, đôi môi bạn mím chặt lại, mắt mở to. Khuôn mặt hồng hào của bạn giờ đây trắng bệch. Trân hét thất thanh:

-Cậu thật quá đáng!

Tiếng hét của Trân làm tôi chợt tỉnh, tôi vô cùng sợ hãi và bất ngờ, tay tôi run lên, quyển nhật kí rơi xuống đất. Mọi thứ diễn ra quá nhanh làm tôi không thể tưởng tượng được. Đôi mắt Trân nhìn tôi trở nên đầy lạnh lẽo và xa cách. Tôi im lặng không nói lời nào khi thấy trên khuôn mặt bạn là hai hàng nước mắt.

-Thôi! Cậu xuống lầu nhập tiệc đi! Vừa nói Trân vừa nhặt cuốn nhật kí lên và chạy vội vào phòng, tôi sững sờ chưa kịp nói lời xin lỗi. Bữa tiệc hôm ấy đã diễn ra nhưng không ai thấy sự xa cách của tôi và Trân.

Về nhà tôi suy nghĩ về hành động của mình, tôi tự trách mình tại sao mày lại tò mò đến vậy ? Mày có biết là đã đánh mất đi niềm tin của người bạn thân iu không” Trong tôi luôn muốn nói lời xin lỗi nhưng sao khó quá!

Cũng chính sự ngang bướng của tôi đã làm mất đi tình bạn của mình Tôi giận mình quá lòng ray rứt vì đã xúc phạm bạn. Tôi thật sự không muốn mất bạn. Trân ơi mình ân hận quá, hãy tha lỗi cho mình. Ngày mai đến lớp tôi sẽ mua cho bạn 1 gói ô mai và nói lời xin lỗi với bạn, Tôi mong bạn tha thứ cho mình và thật sự tôi đã làm được tôi đã lấy hết can đảm để nói lời xin lỗi với Trân. Ngoài sự mong đợi Trân mỉm cười và chấp nhận tha thứ cho tôi. Bạn nói:

-Trong cuộc sống không ai không mắc lỗi lầm nhưng người biết sữa chữa và nói lời xin lỗi là người tốt và cậu đã làm được đấy thôi! Vì thế mình sẽ tha thứ cho cậu.

Tính hiếu kì đôi lúc làm con người khám phá ra những điều mới lạ nhưng cũng có lúc làm cho con người trở nên xấu xa hơn khi nó biến thành sự tò mò tọc mạch. Mỗi con người đều có 1 góc riêng tư không thể bày tỏ cùng ai và điều đó cần được tôn trọng. Vì vậy lén xem trộm nhật kí của bạn là một hành vi không đúng. Tôi đã xúc phạm bạn và nếu như không được tha thứ thì có lẽ tôi sẽ đánh mất tình bạn thiêng liêng này và hạ thấp con người của mình. Xin mọi người hãy tôn trọng những riêng tư của nhau, đừng bao giờ tò mò như tôi

 

Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi

Bài làm 3: 

Năm học lớp 6, lớp 7, tôi thi học sinh giỏi môn Toán toàn huyện, đều giành đuợc giải khuyến khích. Nhiều bạn chế giễu tôi là đạt được “giải khúc khích!”.Lên lớp 8, bố mẹ tôi chuyển nhà lên thị xã. Hai chị em tôi đều chuyển đến trường mới: trường Trung học cơ sở Phạm Ngũ Lão. So với các bạn học trong lớp thì tôi chỉ vào loại học khá môn toán, còn môn Ngữ văn, môn Tiếng Anh, tôi gồng mình lên mà chỉ được điểm trung bình. Tôi sinh ra tự ti, thậm chí có lúc tỏ ra hèn nhát. Giờ học Tiếng Việt, cô giáo lên giảng bài rất hay, nhưng tôi không dám giơ tay phát biểu. Sinh hoạt tổ học tập, sinh hoạt lớp, tôi ngồi im như thóc trong bồ. Các bài kiểm tra toán, tôi chỉ được 7, 8 điểm; cô Thanh vẫn phê là “trình bày rối” chưa khoa học. Thậm chí, có lần tôi còn làm trò cười cho cả lớp. Tôi gọi cây đàn ghi ta (Lục huyền cầm) là cây đàn “cai – nha” khi làm bài văn thuyết minh. Giờ ra chơi, tôi ít ra sân đá cầu, nhảy dây cùng các bạn, v.v…

Tôi trở nên vụng về khi bước vào phòng chức năng học vẽ, học đàn, học hát. Buổi học hôm ấy, khi các bạn kéo ra sân chơi, tôi ở lại một mình trong phòng chức năng. Không biết tôi hí hoáy thế nào đó mà làm đứt dây đàn vĩ cầm. Sự cố xảy ra, tôi vô cùng lo sợ. Tôi dặn mình: “Chẳng ai biết mình gây ra. Cứ im lặng và tỉnh bơ…”. Buổi tập hát tiếp tục. Cái Diệu kêu lên: ”Đàn đứt dây rồi!” Cô Liên và cô Chi hỏi: “ Ai làm đứt dây đàn?” Nhưng tất cả đều nhìn nhau im lặng! Cô Liên và cô Chi đều tỏ ý không vui. Sau sự cố ấy, thầy chủ nhiệm lớp 8A, hạ mức hạnh kiểm của cái Diệu (nhóm trưởng) cái Hoàn (nhóm phó) trong đội ca vũ xuống một bậc, từ loại tốt xuống loại khá. Năm học sắp kết thúc rồi. Diệu và Hoàn đều học giỏi, đàn ngọt, hát hay, được các thầy cô giáo và bạn học quý mến.

Chuyện ấy làm tôi day dứt trong lòng mãi. Nhiều đêm tôi trằn trọc và tự trách mình sao hèn nhát thế? Tại sao không dũng cảm tự nhận lỗi để Diệu và Hoàn mắc oan? Nhưng có lúc tôi lại nghĩ: “Mọi chuyện rồi sẽ trôi qua. Nhắc lại làm chi cho mệt…”

Lòng tự trọng đã nâng đỡ tâm hồn tôi. Tôi viết một bức thư dài gửi thầy chủ nhiệm nói rõ sự việc, xin nhận kỉ luật: đề nghị thầy không hạ mức hạnh kiểm của hai bạn Diệu, Hoàn…

Thầy Cảnh gặp riêng tôi. Thầy nói về lòng tự trọng, sự hèn nhát và lòng dũng cảm. Thầy an ủi, động viên tôi. Lúc đầu, tôi cứ ngỡ các bạn sẽ khinh ghét tôi, xa lánh tôi. Nhưng thật không ngờ, các bạn lại yêu mến, quý trọng tôi hơn trước. Tôi thấy tâm hồn mình thanh thản. Cuối năm học lớp 8, thi kiểm tra, tôi được 5 điểm 10, xếp loại giỏi văn hoá, loại tốt hạnh kiểm.

Tổng hợp những bài văn hay nhất kể về một lần em có lỗi với bạn

 

Các bạn có thể tham khảo thêm rất nhiều những bài văn mẫu để luyện thi tại http://tiepsucmuathi.edu.vn. Cuộc sống hãy cứ thế giản đơn, rút ra kinh nghiệm cho mỗi lần mắc sai lầm mới là chính bạn. Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn với chúng tôi  kể về một lần em có lỗi với bạn để cùng rút ra bài học nhé!

 

 

Cảm nhận hay nhất về bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Hãy cảm nhận bài thơ đất nước của Nguyễn Khoa Điềm một trong nhũng tác phẩm văn học nổi tiếng nhất. Đề tài đất nước là một trong những đề tài muôn thuở của thơ văn Việt Nam nói chung và trong các lĩnh vực khác nói riêng. Chúng ta đã bắt gặp hình ảnh đất nước rất nhiều không chỉ trong văn học, thơ ca mà cả trong những lời ca, câu hát của bà và mẹ. Hình ảnh đất nước chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp đất nước đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất vẫn là qua bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua bao nhiêu sóng gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm.

Tác giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước là tên gọi thiêng liêng, bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn của cảm xúc chính tác giả.

Bài thơ được mở đầu bằng những vần thơ nhẹ nhàng, tinh tế đưa người đọc trở về với những ngày đầu mới khai sinh:

Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

Đất nước có trong những cái ngày xửa

Ngày xưa mẹ thường hay kể

Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc.

Đất nước hiện lên qua những câu thơ thật bình dị, gần gũi, nó không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một khái niệm hiện hữu hằng ngày trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Tác giả sử dụng từ “khi” để đánh dấu sự ra đời của khái niệm “đất nước”. Từ khi mỗi chúng ta sinh ra thì đất nước đã có rồi. Sau câu thơ ấy, tác giả bắt đầu lí giải nguồn gốc của đất nước mà mỗi người đều mong muốn hiểu thấu được. Giọng thơ dịu nhẹ, ngọt ngào dẫn dụ người đọc về với những “ngày xửa ngày xưa”. Đó như một nốt nhạc của quá khứ trở về trong những suy nghĩ của con người. Từ: “ngày xửa, ngày xưa” đánh dấu những điều gì đó xa xưa, rất xưa, không xác định thời gian cụ thể, chỉ biết rằng nó đã có từ lâu đời. Đất nước đồng thời hình thành từ khi dân mình biết đánh giặc. Là những con người đó làm nên đất nước…

Đất nước còn gắn liền với cuộc sống bình dị, thân quen của người nông dân Việt Nam.

Tác giả không chỉ dừng lại ở đó, đất nước còn được lý giải chính là thành quả của công cuộc lao động để xây dựng và phát triển:

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng

Đất nước có từ ngày đó

Một một dụng cụ được tạo ra để phục vụ cho đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của con người như “kèo, cột” đều gắn bó với lịch sử ra đời của đất nước. Rất bình dị, rất chân thực nhưng nó như là một sự giải thích đúng đắn.

Nguyễn Khoa Điềm như dẫn người đọc đi vào những cung bậc tình cảm khác của đất nước, đó là chuyện tình yêu lứa đôi e ấp nhưng tha thiết và mặn nồng:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất nước không chỉ hiển hiện trong không gian văn hóa, phong tục tập quán của con người mà còn hiện lên trong những tình yêu lứa đôi mặn nồng, tha thiết nhất. Tác giả đã cắt nghĩa “đất nước” thành hai từ “đất” và “nước” để lí giải cụ thể ý nghĩa của từng từ. Đây có thể coi là sự tinh tế và đầy thi vị của Nguyễn Khoa Điềm. Nhưng dù được tách ra thì đất nước vẫn là một khái niệm trọn vẹn và đầy ý nghĩa nhất.

Đất nước còn được mở ra theo chiều dài của lịch sử và chiều dài của không gian văn hóa, của những con người vẫn còn trằn trọc tha thiết đi tìm hình bóng quê hương. Đất nước được hình thành từ những câu chuyện xa xưa, từ những điển tích điển cố mà người đời sau vẫn luôn nhắc nhở nhau. Hình ảnh “con chim phượng hoàng”, “núi bà đen, bà điểm”, “lạc long quân âu cơ” chính là minh chứng cho sự phát triển nhiều thăng trầm nhưng đáng tự hào của chúng ta. Nhớ về cội nguồn, nhớ về những ngày xưa vất vả chính là đạo lí, truyền thống uống nước nhớ nguồn mãnh liệt của nhân dân ta.

Đất nước trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thống:

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Trong sự hình thành và phát triển, bề dày văn hóa lịch sử ngày càng được khẳng định. Những con người đã ngã xuống vì đất nước, những con người thế hệ mai sau cần phải cố gắng gìn giữ và phát huy được truyền thống tốt đẹp đó.

Nguyễn Khoa Điềm đã có cái nhìn đa chiều về đất nước từ khía cạnh đời thường, khía cạnh lịch sử, khía cạnh không gian và thời gian mang đến cho người đọc nhận thức đúng đắn nhất về đất nước mà chúng ta đang sống và cống hiến.

Hơn hết tác giả còn khẳng định

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần đất nước

Có thể nói đất nước đã đi vào và in hằn vào máu thịt của mỗi người, nhắc nhở trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng ta về công cuộc xây dựng và bảo vệ sự vững mạnh của đất nước này.

Đất nước còn được Nguyễn Khoa Điềm tích lũy thành một khái niệm sâu sắc:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Một quan niệm sâu sắc, giàu giá trị nhân sinh quan khiến cho người đọc không thể phủ nhận sự tồn tại của đất nước là một thực tế.

Đất nước còn biểu tượng cho long thành kính, sự biết ơn đến những người đã ngã xuống vì hòa bình, tự do cho hôm nay:

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra đất nước

Lại them một sự lí giải đúng đắn cho định nghĩa “đất nước”, những con người đó họ dù chết nhưng trái tim họ vẫn còn sống mãi trong cuộc sống của những người ở lại.

Nhưng ở hai câu thơ cuối có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra định nghĩa đúng đắn và sâu sắc nhất về đất nước:

Đất nước này là đất nước của nhân dân

Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.

Thật vậy, nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Bởi vậy đất nước này phải thuộc về nhân dân. Tư tưởng của tác giả rất tiến bộ, rất đời thường và rất sâu sắc.

Như vậy Nguyễn Khoa Điềm bằng những lý lẽ và dẫn chứng đầy thuyết phục đã khẳng định được vị trí, vai trò vô cùng to lớn của đất nước trong cuộc sống của mỗi con người.

Gấp lại những trang thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm chắc hẳn ai trong chúng ta cũng có những bồi hồi, xao xuyến nơi sâu thẳm đáy lòng bởi những vần thơ sâu lắng đi vào lòng người nghe và người đọc. 

Gợi ý soạn bài Chiếc thuyền ngoài xa cho giáo viên và học sinh

Chiếc thuyền ngoài xa là tên một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đời tư-thế sự của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975. Tạp chí Văn nghệ Quân đội (số 1 tháng 10 năm 2007) cũng chọn và coi đây là tác phẩm hay nhất của nhà văn. Tác phẩm này đã được đưa vào giảng dạy ở chương trình chính thức Sách giáo khoa môn ngữ văn lớp 12 bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 qua một đoạn trích phần giữa truyện.

Dưới đây chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn tài liệu và hướng dẫn các bạn soạn bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu để các bạn nắm được kiến thức của môn học và cảm nhận về bài văn một cách sâu sắc hơn.

 I.         Kiến thức cơ bản

A.    vài nét về tác giả :

– Nguyễn Minh Châu(1930-1989) – Quê Nghệ An.

– Là nhà văn quân đội, sáng tác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

– Tác phẩm của ông :

·  Trong kháng chiến chống Mỹ ông tập trung viết và ngợi ca cuộc sống hào hùng của các thế hệ con người Việt Nam dũng cảm, chấp nhận mọi hi sinh vì sự nghiệp chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.

·  Từ những năm 80 của thế kỉ XX, sáng tác của Nguyễn Minh Châu khẳng định ông luôn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức, thế sự.

·  Trong thời kì nào Nguyễn Minh Châu đều sáng tác theo phương châm” Đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn mỗi con người” và ông luôn có cái nhìn thấu hiểu, trĩu nặng tình thương và nỗi lo âu đối với con người

·  Nguyễn Minh Châu có lối văn giản dị mà sâu sắc, thấm thía, nhiều dư vị, nhiều trải nghiệm, chiêm nghiệm.

–         Tác phẩm tiêu biểu:Cửa sông( tiểu thuyêt,1966),Dấu chân người lính (tiểu thuyết,1972), Miền cháy (tiểu thuyết,1977), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành( truyện ngắn, 1983),Bến quê ( truyện ngắn, 1985)…

–          Nhận định:

·         Nhà văn Nguyễn Khải: “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này”.

·         Nhà phê bình Nikolai Nikulin: “Niềm tin vào tính bất khả chiến thắng của cái đẹp tinh thần, cái thiện đã được khúc xạ ở chỗ, anh (Nguyễn Minh Châu) đã tắm rửa sạch sẽ các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng”.

      B. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác – Xuất xứ và ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm

 a.  Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ

–         Từ những năm 80 của thế kỉ XX, từ cảm hứng sử thi lãng mạn của những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, cảm hứng sáng tác của nhà văn dần dần chuyển sang tính chất triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá ý nghĩa bản chất con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số những tác phẩm ra đời trong mạch cảm xúc này của tác giả.

– Chiếc thuyền ngoài xa được in lần đầu trong tập Bến quê, sau được tác giả lấy làm tên chung cho cả tập truyện ngắn từ truyện Bức tranh trở đi, in năm 1987.

           b.Ý nghĩa tư tưởng

– Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai.

– Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra đời sống con người cả ở những sự kiện bề nổi nhưng khuất lấp trong bề sâu của nó, nhận ra những quy luật tất yếu lẫn những ngẫu nhiên, may rủi đầy bất trắc và khó lường trước của đời sống.

– Ông luôn day dứt về việc con người phải chịu đựng, phải chấp nhận những nghịch lí mà lẽ ra là không đáng có trong một cuộc sống tốt hơn.
2. Tóm tắt

– Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ. Anh được trưởng phòng phân công xuống vùng biển để chụp một bức ảnh cảnh biển buổi sáng. Anh quan sát và chụp được một cảnh “đắt” trời cho. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và rất đẹp. Phùng rất xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình. Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.

– Ngay lúc ấy Phùng thấy mũi thuyền tiến thẳng vào bờ. Một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền. Người đàn bà cao lớn, đường nét thô kệch, mệt mỏi sau một đêm kéo lưới. Người đàn ông có tấm lưng rộng và cong như chiếc thuyền, hai con mắt dữ tợn. Hắn hùng hổ rút chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà. Người đàn bà cam chịu, nín lặng. Lúc  ấy, thằng Phác – con của hai vợ chồng hàng chài- Lo đến giằng chiếc thắt lưng trên tay bố và đánh mạnh vào ngực bố nó. Người đàn ông thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát.

– Hôm sau, Phùng chứng kiến cảnh tượng tương tự. Chỉ khác là chị thằng Phác đã giằng được con dao mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Không thể chịu được Phùng đã xông vào can ngăn người đàn ông. Lão đánh trả, Phùng bị thương phải đưa vào bệnh xá của tòa án huyện.

–  Tại đây, anh được biết cảnh ngộ của người đàn bà hàng chài qua lời tâm sự của chị. Anh ngạc nhiên và thực sự cảm thông. Anh ngạc nhiên vì người đàn bà không nghe theo cách giải quyết ban đầu của Đẩu( chánh án) là khuyên người đàn bà li dị. Về sau  khi nghe người đàn bà tâm sự anh và Đẩu mới “vỡ lẽ”, cả hai hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của gia đình hàng chài. Cuối truyện, Đẩu đi gặp người đàn ông đánh vợ còn Phùng xuống chỗ đóng thuyền gặp thằng Phác. Sau đó Phùng trở về phòng văn hóa, suy nghĩ về bức ảnh chụp được in trong bộ lịch.

3.     Tình huống truyện

a.     Tóm tắt tình huống truyện

–         Nghệ sĩ Phùng đến một vùng ven biển miền Trung để chụp một tấm ảnh cho bộ lịch năm sau. Tại đây anh chụp được một tấm ảnh cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong làn sương sớm đẹp như tranh vẽ.

–         Khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng thấy hai vợ chồng hàng chài bước khỏi thuyền và anh chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ, đứa con ngăn bố. Những ngày sau, cảnh đó lại tiếp diễn. Phùng không ngờ đằng sau cảnh đẹp tuyệt vời của thiên nhiên là bao ngang trái, nghịch lí của đời thường.

b.     Các nhân vật đối với tình huống truyệnà Tình huống truyện làm nổi bật số phận, tính cách, cách nhìn nhận vấn đề trong cuộc sống của các nhân vật.

–         Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa vẻ đẹp chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái trong gia đình hàng chài. Gánh nặng mưu sinh đè nặng trên vai cặp vợ chồng. Người chồng trở thành kẻ vũ phu. Người vợ vì thương con nên nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi của chồng mà không biết mình đã làm tổn thương tâm hồn đứa con. Cậu bé thương mẹ, bênh vực mẹ, thành ra căm ghét cha mình.

–         Chánh án Đẩu tốt bụng nhưng đơn giản trong cách giải quyết sự việc. Anh khuyên người đàn bà li dị nhưng không hiểu vì sao người đàn từ chối lời khuyên ấy.

c.      Ý nghĩa của tình huống truyện

–         Ý nghĩa khám phá, phát hiện của tình huống truyện

·  Cái nhìn và cách cảm nhận của nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu là sự khám phá, phát hiện sâu sắc về đời sống và con người.

·  Sau khi người đàn bà tâm sự, Đẩu hiểu nguyên nhân vì sao người đàn bà không bỏ chồng. Anh đã “vỡ lẽ” ra nhiều điều trong cách nhìn nhận cuộc sống.

·  Phùng như thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại ở rất gần. Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện giúp anh hiểu rõ hơn cái có lí trong cái tưởng như nghịch lí ở gia đình thuyền chài. Anh hiểu thêm tính cách Đẩu và hiểu thêm chính mình.

–         Tình huống truyện khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật và đời sống, thể hiện cái nhìn đa diện nhiều chiều về đời sống, gợi mở những vấn đề mới cho sáng tạo nghệ thuật.

C.   Nội dung

1.     Phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng – Bức tranh thiên nhiên vùng biển

–         Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, Phùng đến một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh. Tại đây anh đã chụp được một bức ảnh thiên nhiên đẹp như mơ. Anh phát hiện ra vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời cầm máy anh chỉ có diễm phúc bắt gặp một lần “ trước mặt tôi……  hài hòa và đẹp”

–         Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Anh cảm nhận trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa trời biển mờ sương vẻ đẹp của cái chân- thiện- mỹ. Phùng thấy tâm mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa, lãng mạn của cuộc đời” tôi tưởng chính mình….trong ngần của tâm hồn”.Anh còn cảm nhận” bản thân cái đẹp chính là hạnh phúc”.

2.     Phát hiện thứ hai của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng- Bi kịch của gia đình làng chài

–         Một phát hiện bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.

–         Phùng bắt gặp, chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ kia bước ra một người đàn bà thô kệch, xấu xí, mệt mỏi, cam chịu; một người đàn ông thô kệc, dữ dằn độc ác, đánh vợ một cách vũ phu, tàn nhẫn; một đứa bé vì thương mẹ đã xông vào đánh cha với lòng căm hận.

–         Lần thứ hai nhìn thấy cảnh tượng ấy lặp lại, Phùng đã thể hiện bản chất người lính là không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác- Anh xông vào can ngăn.

–         Phùng cay đắng nhận ra : Đằng sau vẻ đẹp toàn bích của thiên nhiên còn tồn tại biết bao nghịch lí, ngang trái, xấu xa- Nghịch lí xuất hiện ở những nơi khó ngờ nhất.

3.     Các nhân vật

a.     Người đàn bà hàng chài

–         Ngoại hìnhà hiện thân của sự nghèo khổ, vất vả và cam chịu

–         Khi bị chồng đánh, chị nhẫn nhục chịu đựng

–         Khi thấy thằng Phác chị vái lạy con và khóc

–         Tại tòa án huyện

·        Lúc đầuà sợ sệt, lúng túng, đáng thương, tội nghiệp ( cử chỉ, điệu bộ, cách xưng hô)

·        Sau khi chánh án Đẩu khuyên chị li hôn:

+  Không chịu li hôn

+ Thái độ thay đổi, trở nên chủ động, mạnh dạn đề xuất ý kiến của mìnhà Người đàn bà hiểu được thiện ý của Đẩu và Phùng nhưng cũng cảm thông cho sự nông nổi, ngây thơ của họ- Họ mới nhìn cuộc sống ở hiện tượng chứ chưa thấy bản chất bên trong.

ð    Hình ảnh một người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh nhưng lại là người hiểu lẽ đời và ngời sáng vẻ đẹp của tình mẫu tử, lòng vị tha, đức bao dung,sự can đảm – Đó là hạt ngọc ẩn giấu trong cái lấm láp đời thường mà Nguyễn Minh Châu đã phát hiện ra bằng cái nhìn đa diện, nhiều chiều và tình yêu thương, sự trân trọng của ông đối với con người.

b.     Người đàn ông

–         Ngoại hình Cuộc sống đói nghèo, lam lũ hằn in lên dáng vẻ khắc khổ của người đàn ông

–         Mỗi khi đánh vợ lại “ rên rỉ đau đớn” à Đánh vợ như một sự giải tỏa nỗi ẩn ức, bế tắc trong lòng. Gánh nặng áo cơm đã làm cho người đàn ông trở thành kẻ vũ phu, thô bạo.

c.      Thằng bé Phác

–         Yêu thương mẹ

–         Căm thù cha

ð    Nạn nhân của nạn bạo hành trong gia đình

d.     Chánh án Đẩu

–         Là vị Bao Công có lòng tốt nhưng xa rời thực tế. Giải quyết vấn đề bằng lí thuyết mà chưa gắn với thực tế đời sống.

–         Sau buổi nói chuyện với người đàn bà hàng chài, Đẩu đã “vỡ lẽ” à Anh bắt đầu nhận ra rằng: Muốn con người thoát khỏi cảnh tăm tối, đau khổ cần có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí và lí thuyết suông.

e.      Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng- nhân vật TÔI

–         Là nhân vật tư tưởng, một người nghệ sĩ tài hoa, tâm hồn nhạy cảm,dũng cảm với nghệ thuật đích thuật.

–         Xuất thân một người lính nên luôn có ý thức bảo vệ cái tốt, cái đẹp, cái công bằng và đấu tranh với cái xấu, cái ác, cái bất công.

–         Đóng vai trò của người kể chuyệnà Qua câu chuyện về gia đình hàng chài nhân vật TÔI:

·        Nhận thức lại về chân giá trị của con người và đời sống à Phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều mới có thể khám phá bản chất của cuộc đời, không thể có cái nhìn đơn giản, hời hợt đối với cuộc sống.

·        Nghệ thuật và đời sống có mối quan hệ mật thiết và bản thân cái đẹp chính là đạo đức.

4.     Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

–         Là biểu tượng của bức tranh thiên nhiên về biển và cũng là biểu tượng về cuộc sống sinh hoạt của người dân làng chài.

–         Là hình ảnh gợi cảm, gợi liên tưởng về cuộc sống bấp bênh của những thân phận, những cuộc đời trôi nổi trên sông nước.

–         Là biểu tượng cho mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.

D.   Nghệ thuật

1.     Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện nghịch lí làm nổi bật tình huống  nhận thức

2.     Giọng điệu chiêm nghiệm, suy tư ,phù hợp với nhận thúc

3.     Ngôn ngữ đằm thắm, giản dị.

E.   Chủ đề: Nhà văn khẳng định cách nhìn nhận đúng đắn về con người và cuộc sống là cách nhìn đa diện, nhiều chiều để phát hiện ra bản chất thực sự sau bề ngoài của hiện tượng. Qua đó tác giả bày tỏ cái nhìn thấu hiểu và tấm lòng trĩu nặng tình thường đối với con người cùng những suy tư, trăn trở về cuộc sống .

      II.         Luyện tập

1.     Phân tích tình huống truyện và ý nghĩa nhận thức qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

2.     Trình bày suy nghĩ về hình ảnh người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

·        Chia sẻ với người đàn bà về cảnh đời bất hạnh, khổ đau cả về thể xác lẫn tinh thần.

·        Trân trọng tình mẫu tử và những niềm vui, hạnh phúc mà bà chắt lọc từ trong đau khổ triền miên.

·        Cảm thông cho cảnh đời của người đàn bà hoặc không đồng tình với thái độ cam chịu của nhân vật này trước cảnh bạo lực trong gia đình

·        Hình ảnh người đàn bà thể hiện cái nhìn thấu hiểu và tấm lòng trĩu nặng tình thương, nỗi lo âu cho con người của tác giả. Đồng thời cũng cho thấy tác giả đã có cái nhìn không sơ lược và đơn giản về cuộc sống và con người.

3.     Tính chất luận đề của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

4.      Trình bày cảm nhận về hình ảnh người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa( Nguyễn Minh Châu)

v  HS có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lí và nổi bật những nội dung sau:

·        Người đàn bà bất hạnh, đau khổ, cam chịu ( ngoại hình, bị chồng đánh đập tàn nhẫn…)

·        Người đàn bà thất học, quê mùa nhưng thấu đáo lẽ đời ( cảnh ở tòa án huyện)

·        Người đàn bà ngời sáng vẻ đẹp của tình mẫu tử,đức hi sinh,lòng vị tha (đối với chồng, con)

v  Cảm nhận:

·        Cảm thông, chia sẻ với nỗi bất hạnh, đau khổ của người đàn bà.

·        Trân trọng những phẩm chất của một người mẹ, người vợ.

·        Đồng tình (hay không đồng tình)với sự cam chịu, nhẫn nhục của người đàn bà.

·        Qua hình ảnh người đàn bà thấy được:

o       Cái nhìn thấu hiểu và tấm lòng trĩu nặng tình thương, nỗi lo âu cho con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

o       Tác giả có cái nhìn đa diện nhiều chiều về cuộc sống và con người.

o       Thể hiện phương châm sáng tác của tác giả” Đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn mỗi con người”

5.     Trong đoạn cuối truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?

–         Bức ảnh mà nghệ sĩ Phùng chụp được là một bức ảnh đen trắng, ghi lại hình ảnh chiếc thuyền đang từ từ tiến vào bờ trong màn sương sớm tại một làng chài miền trung. Bức ảnh hoàn toàn không có sự xuất hiện của con người.

–         Tuy nhiên, khi “ngắm kĩ” bức ảnh, anh lại thấy hiện lên “cái màu hồng của ánh sương mai”. Và nếu “nhìn lâu   hơn”, nghệ sĩ nhiếp ảnh nhận ra hình ảnh “người đàn bà đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kêch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

–         Ý nghĩa của các hình ảnh đó: Những hình ảnh ấy có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, thể hiện chủ đề tư tưởng của các phẩm. Nó nói lên mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống: cuộc sống chính là khởi nguồn cảm hứng sáng tạo, là chất liệu cho sự sáng tạo của người nghệ sĩ đồng thời, cuộc sống, con người cũng chính là đích đến, là mục đích cao nhất của nghệ thuật. Không những vậy, một tác phẩm nghệ thuật chân chính phải là tác phẩm thể hiện được chiều sâu, bản chất của hiện thực đằng sau cái vẻ ngoài đẹp đẽ, lãng mạn. Để làm được điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều, sâu sắc, toàn diện về hiện thực, phải có sự trải nghiệm và quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, gian khổ.

 

     III.         Tham khảo

 
http://tiepsucmuathi.edu.vn/tin-hoat-dong/soan-bai-chiec-thuyen-ngoai-xa-119.html

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

 

1. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

Dựng lên sự đối lập giữa hình ảnh chiếc thuyền trên bức ảnh nghệ thuật và tấn bi kịch của gia đình người ngư dân bên trong chiếc thuyền đẹp đẽ ấy, nhà văn thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật của mình : nghệ thuật chân chính bao giờ cũng bắt nguồn tử cuộc sống, phục vụ cuộc sống ; tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ là những nhân tố không thể thiếu được trong sự sáng tạo nghệ thuật.

Nguyễn Minh Châu đã không trực tiếp phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật của mình nhưng hệ thống nhân vật của tác phẩm và đặc biệt quá trình tự ý thức của người nghệ sĩ nhiếp ảnh (ở đoạn kết) đã toát ra điều đó (xem phần trích tác phẩm). Bằng hành động tự ý thức, Phùng đã nhận ra cái chưa đến được của mình để rồi đấu tranh tự hoàn thiện. Đây cũng chính là khát vọng kết nối Chân – Thiện – Mĩ mà suốt đời nhà văn Nguyễn Minh Châu luôn khao khát và tìm kiếm

2. Giá trị nhân đạo của tác phẩm

Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm giàu giá trị nhân đạo. Viết truyện ngắn này, Nguyễn Minh Châu muốn bày tỏ sự thông cảm đối với cuộc sống của con người nơi vùng biển vắng. Tư tường nhân đạo của truyện ngắn thể hiện ở thái độ quan tâm đến con người đến con người bất hạnh của nhà văn. Phê phán hành động vũ phu của người chồng, đồng thời Nguyễn Minh Châu muốn cho người đọc thấy rõ tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng tối của xã hội đương đại. Nhà văn còn mạnh dạn nêu lên phản ứng dữ dội của đứa con để nhấn mạnh hậu quả trầm trọng của tệ nạn này. Chính người vợ đã gửi đứa con lên ở với ông ngoại để khỏi chứng kiến cái ác hoành hành ngay trong gia đình. Người vợ hy sinh cũng để bảo vệ cho hạnh phúc gia đình. Dẫu viết về bạo lực gia đình, nhưng Nguyễn Minh Châu đã báo động những vấn đề xã hội nhức nhối. Gióng lên một tiếng chuông báo hiệu điều ác, Nguyễn Minh Châu đã đấu tranh cho cái thiện. Tư tưởng nhân đạo của truyện chính là ở điểm ấy.

Ngoài ra, giá trị nhân đạo còn được thể hiện qua việc xây dựng nhân vật người đàn bà.[5] Hình ảnh người đàn bà vùng biển xấu xí, nhẫn nhục vẫn toát lên vẻ đẹp của tình mẫu tử, một vẻ đẹp đầy nữ tính, vị tha của người phụ nữ ở một miền biển còn nghèo đói, lạc hậu. Như vậy ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện nhưng khát khao hạnh phúc bình dị của người lao động. Dẫu nghiệt ngã những phận đời, dẫu còn nhiều nghịch lý, nhưng ẩn chìm trong những trang văn của Nguyễn Minh Châu vẫn là chất nhân văn lấp lánh.

3. Phân tích tác phẩm

Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp” (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người- Tap chí Văn học, 1993, số 3, tr.20).

Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.

Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa Anh từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khỏe khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!).

Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”. Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ cho chúng ta : cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hoà với nó. Cách lý giải về con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.

Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.” . Và những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn, những con người gặp gỡ thật đáng yêu…Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc – thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu).

Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn chắc của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”. Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.

Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh. Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếcthuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người.

Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.

Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người vhà cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi).

Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía : “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu).

Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia? Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.

Truyện của Nguyễn Minh Châu luôn có những ý nghĩa triết lí sâu xa như thế. Ý nghĩa của cuộc sống. Con người sống cả trăm năm, dường như chỉ để đi tìm câu trả lời “mình sống để làm gì?”. Chao ôi, nhiều, nhiều điều lắm. Sống để mà yêu thương, sống để chia sẻ, cảm thông, để biết đau trước nỗi đau của muôn người, biết khóc với những cảnh đời nghiệt ngã, biết màu hồng nhất của hạnh phúc, màu tím nhất của sầu muộn.

Nguyễn Minh Châu đã để lại trong lòng người đọc một nỗi buồn man mác vô tận, phải chăng ông đã viết nên một cuốn tiểu thuyết về cuộc sống? mà mọi người đang rọi mình vào đó. 

 

Hãy chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta

Mỗi chúng ta sống khỏe mạnh và bình yên đều nhờ vào không gian trong lành mà thiên nhiên ban tặng, hay nói cách khác không có nguồn không khí trong lành thì cuộc  sống của chúng ta sẽ bị hủy diệt. Vậy, có lúc nào chúng ta tự hỏi nguồn không khí đó bắt đầu từ đâu?  Để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta, các bạn hãy cùng tôi phân tích để sáng tỏ những luận điểm và dẫn chứng dưới đây.

Bầu không khí có thể được xem như là thức ăn nước uống hàng ngày của chúng ta, chúng ta có thể sống nghèo khổ trong một thời gian dài nhưng chúng ta không thể thiếu không khí trong một vài giờ được. Không khí là môi trường tất yếu đối với con người. Và để cho môi trường không khí trong lành thì điều quyết định nó không phải là cuộc sống hiện đại mà quan trọng nhất là chúng ta phải biết bảo vệ màu xanh của cây cỏ thiên nhiên, người ta thường ví “Rừng là lá phổi của con người, là nơi nuôi sống con người”. Từ đặc điểm này ta nhận thấy rừng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống của chúng ta, bởi không có rừng, không có màu xanh của cây cỏ thì sự sống trên trái đất chắc chắn sẽ không còn  tồn tại và rừng còn cho ta nhiều giá trị khác quan trọng nữa không chỉ về mặt tinh thần.

Vậy để con người trên trái đất này có thể tồn tại một cách khỏe mạnh và bình yên thì nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải bảo vệ rừng.

http://tiepsucmuathi.edu.vn/ngu-van/chung-minh-rang-bao-ve-rung-la-bao-ve-cuoc-song-cua-chung-ta-110.html

Từ thời xa xưa, rừng là một kế sinh nhai cho cuộc sống của con người, cha ông ta trước đây khi kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, không đủ ăn đã sống dựa vào rừng như lấy gỗ làm vật liệu xây dựng nhà, săn bắn muông thú trong rừng để làm thức ăn và cho đến ngày nay rừng vẫn là nguồn cung cấp nguyên vật liệu quan trọng cho việc làm giấy, làm nhà, làm các đồ dân dụng trong gia đình. Có những đồ vật chỉ có thể làm được từ những loại gỗ của thiên nhiên mới đẹp, điều đó có nghĩa dù hiện nay con người có thể làm ra các loại gỗ nhân tạo nhưng dường như nó vẫn không thể thay thế được gỗ tự nhiên về độ bền, đẹp…

Cho dù hiện tại những vật dụng chúng ta có thể làm thay thế nó bằng những nguyên liệu khác nhưng vẫn không thể bền đẹp được như chính những đặc trưng của gỗ tự nhiên.

Ngoài ra rừng còn là nơi cung cấp những loại thuốc quý hiếm từ xưa đến nay người ta đã biết tìm trong rừng những loại thuốc chữa bệnh cho con người rất hiệu nghiệm nhiều khi còn hơn cả thuốc Tây. Rừng như một thế giới riêng, ở đó có rất nhiều những sản phẩm quý hiếm, những loài lá có thể chữa bệnh cho con người mà không nơi nào có được.  Rừng còn là ngôi nhà bình yên của muôn loài động vật, rừng còn đem lại giá trị về du lịch sinh thái giúp cho con người có những giây phút thư thái hít thở bầu không khí trong lành. Rừng còn ngăn dòng nước lũ từ chảy từ vùng cao xuống vùng thấp.

Khí hậu ngày một khắc nghiệt bởi chúng ta đang sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa vấn đề ô nhiễm môi trường là một vấn đề mà xã hội đang thực sự quan tâm. Đứng trước vấn đề đó, rừng cũng bị ảnh hưởng to lớn trước tác động của con người. Vì cuộc sống mưu sinh, con người phải khai thác, chặt cây để lấy gỗ, săn bắt các loại thú quý hiếm trên rừng và vô tình chung đã làm mất đi nguồn tài nguyên vốn có. Các đợt lũ lụt kéo dài rừng bị sạt lở nghiêm trọng, các loại thú quý trên rừng ngày một ít dần đi.

Và quan trọng nhất như ta đã từng nói ở trên, rừng chính là môi trường sinh thái, môi trường sống của loài người. Chúng ta biết rằng cây xanh hút khí cacbonic vào để rồi tạo ra chất oxi, một loại không khí vô cùng cần thiết cho con người, cho cuộc sống. Do đó rừng chính là nhà máy lọc không khí tốt nhất mà không có bất cứ nhà máy lọc khí hiện đại nào trên thế giới có thể thay thế được.. Bên cạnh đó rừng còn là bức tường rào vững chắc ngăn cản lũ lụt, ngăn sự lấn chiếm của cát vào đất, rừng giữ đất giữ nước… Chính từ những tác dụng to lớn như vừa nêu ở trên ta mới nhận thấy việc tàn phá rừng đang diễn ra hiện nay là một việc làm vô cùng nguy hiểm, nó không chỉ là sự tàn phá vẻ đẹp tự nhiên, nguồn nguyên Liệu tự nhiên mà nguy hiểm hơn đó chính là hành động tự hủy hoại cuộc sống của loài người, đẩy con người vào “chiếc thùng đậy kín”, sớm muộn gì cũng gây nên hậu quả khôn lường.

Hậu quả đầu tiên sẽ đến đó là những nơi trước đây tràn đầy màu xanh, không khí trong lành mát mẻ sẽ được thay thế vào đó là sa mạc đầy cát bỏng và làn gió đầy cát bay mù mịt. Khung cảnh đó không còn gợi cho con người cảm giác thư thái mát mẻ, thoải mái nữa mà nó chỉ gợi cho con người cảm giác mệt mỏi, sự thèm khát một bóng râm, một làn nước mát. Thú rừng chẳng còn nơi trú ngụ, thế giới trở nên xơ xác tiêu điều. Các nhà máy không có nguyên vật liệu để sản xuất.

Hậu quả tiếp theo vô cùng quan trọng đó là con người trên trái đất sẽ ốm yếu và chịu nhiều thiên tai bất thường khủng khiếp. Một trận lũ lụt có thể hủy diệt toàn bộ sự sống của cả một thành phố. Bệnh tật kéo theo khi lũ lụt làm cho nguồn nước ô nhiễm, của cải tiêu tán theo dòng nước lũ.

Và có một điều thật sự nguy hiểm đó là bầu không khí của chúng ta đang bị ô nhiễm ở mức báo động. Ngoài việc phá rừng làm ảnh hưởng đến môi trường thì ngày nay khi xã hội càng phát triển các nhà máy công nghiệp mọc lên ở khắp nơi trên thế giới, những ống khói như những mũi tên độc chĩa lên bầu trời vốn trong lành của chúng ta khiến cho bầu trời ngày càng trở mờ mịt bởi những lớp khí bẩn bụi hòa vào. Và biết bao con người ngày đêm hít những luồng khí độc, ô nhiễm đó. Ngày nay trên thế giới có thêm nhiều căn bệnh lạ khó chữa, chắc chắn đó chính là hậu quả của ô nhiễm môi trường. Nếu để tình trạng này kéo đài thế giới sẽ còn rất nhiều hiểm họa bất ngờ và không thể lường trước được.

Chúng ta biết rằng hiện nay vấn đề được quan tâm nhất chính là môi trường, là sự bảo vệ môi trường. Thế nhưng trên thực tế nhiều cá nhân vì lợi ích cá nhân của mình mà đang tâm phá hủy môi trường và sâu xa thì đó cũng chính là hành động tự giết mình.

Rừng – quần thể cây xanh – có vai trò đặc biệt trong việc duy trì nồng độ cao của ôxi trong khí quyển. Các nhà khoa học đã tính ra rằng 1 ha rừng vào mùa xuân và mùa hè trong thời gian một giờ thải vào khí quyển một lượng ôxi đủ cho 200 người hô hấp. Bênh cạnh đó, sự quang hợp giải phóng O2 còn góp phần rất quan trọngtrong sự hình thành tầng ôzôn được ra bởi sự quang phân li phân tử O2 dưới tác động của bức xạ mặt trời. Tầng ôzôn giúp chúng ta tránh khỏi sự hủy hoại của tia tự ngoại… “Lí lẽ đơn giản ấy thiết nghĩ ai trong chúng ta cũng đều được học qua từ những ngày còn là học sinh tiểu học. Ấy vậy mà có nhiều người vẫn cố quên hay cố tình quên, để tự động viên hành vi sai trái của mình là “Ôi chao! Rừng thì bạt ngàn, chặt phá vài héc ta thì có là bao”. Điều đó thật
không thể chấp nhận. Công nghiệp phát triển đã dẫn đến biết bao là sự ra đi vĩnh viễn của hàng ngàn cánh rừng. Đã vậy, khói thải từ các nhà máy và bụi bẩn từ cuộc sống hiện đại lại góp phần không nhỏ trong việc phá hủy tầng ôzôn. Vừa bị giảm đi đáng kể lượng dưỡng khí vì rừng bị tàn phá, con người phải đối diện với biết bao hậu quả khôn lường của việc tầng ôzôn ngày một
lâm nguy. Liệu sẽ ra sao nếu một ngày rừng không còn? Thật chẳng dám tưởng tượng đến cái cảnh đó. Không còn O2 cho chúng ta hô hấp, tầng ôzôn bị tàn phá hoàn toàn, tia tử ngoại chiếu thẳng xuống trái đất… Khi ấy, liệu cuộc sống sẽ còn?
Nên nhớ, địa cầu được gọi là “hành tinh xanh” bởi tất cả các hành tinh thuộc Thái Dương hệ đều không còn có được màu xanh của rừng, của biển, của sự sống, của niềm tin… như Trái Đất. Chính vì thế, phải giữ vững màu xanh hạnh phúc của rừng, của cây xanh, của niềm tự hào vì có được một người bạn trung thành tiếp dưỡng cuộc sống cho chúng ta. Nói đến hành tinh xanh, lại có thêm một lí do để chúng ta phải bảo vệ rừng.
http://tiepsucmuathi.edu.vn/ngu-van/chung-minh-rang-bao-ve-rung-la-bao-ve-cuoc-song-cua-chung-ta-110.html
Phải giữ gìn nguồn tài nguyên vô giá ấy. Rừng không chỉ là môi trường cho cây xanh quang hợp mà còn là thiên đường nơi cõi thế cho những người yêu thiên nhiên. Ngày xưa, chính Nguyễn Trãi đã chấp nhận đánh đổi quyền thế, bổng lộc để trở về ở ẩn Côn Sơn, để cảm nhận được phong vị trong lành của rừng xanh.
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
…Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Trong rừng thông mọc như nêm
Tìm nơi bóng mát ta ngâm thơ nhàn…”
Ung dung, thanh thản và tự tại biết bao nơi núi đồi hoang dã mà cũng đầy thú vị ấy. Từng câu thơ mở ra trước mắt ta khung cảnh hữu tình hùng vĩ. Chợt nghe lòng bao cảm xúc thăng hoa, tự trong ta khẽ khàng tri ân thiên nhiên núi rừng. Cảm ơn Người vì đã cho đời những Côn Sơn, những rừng xanh… Cảnh đẹp này liệu có bất kì máy móc công nghệ nào tự tạo ra được chăng? Rời Côn Sơn và rời thế kỉ XVI của Nguyễn Trãi, lúc thiên nhiên vẫn chưa “vướng đục bụi… công nghiệp”, ta đến Việt Bắc những năm đầu thế kỉ XX. Chao ôi, làm sao Tố Hữu lại may mắn chứng kiến bức tự tình lộng lẫy đến thế của núi rừng:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung…”
Bốn bức tranh như được vừa từ chốn bồng lai chứ chẳng phải cảnh đẹp của hạ giới. Ấy vậy mà đó là thật đấy, và nhờ nhà thơ ta chứng kiến bốn mùa xoay chuyển ở Việt Bắc với tất cả rung động nhỏ nhặt nhất của thiên nhiên. Và cũng tài tình biết bao khi chỉ vỏn vẹn một câu lục mà cái hồn, cái thần sắc của cảnh đẹp từng mùa cứ thế đi vào thơ, lung linh, dịu dàng… Đọc những dòng thơ mà tự thấy lòng đang sống trong cảnh đang thưởng ngoạn núi rừng với tất cả niềm say mê. Sao mà kì vĩ thế chốn rừng sâu? Sao mà tươi mát lạ thường cái màu xanh của chồi non lộc biếc,  trắng tinh khiết của rừng mơ Việt Bắc. Ta về ta nhớ những hoa cùng người. Có thể tình dân Việt Bắc vẫn nồng ấm thủy chung nhưng hoa rừng Việt Bắc chẳng biết đã lưu lạc phương nào. Đau xót biết bao nhiêu! Ấy vậy mà còn có những kẻ nhẫn tâm chặt cây làm nhà, đốt rừng làm rẫy. chẳng lẽ tâm hồn họ không cảm thấy chua xót khi nhìn lá phổi xanh của mình quặn đau? Chẳng lẽ trước màu xanh bạt ngàn ấm áp của rừng, họ không thấy lòng se lại những cảm xúc ngổn ngang? Đó là một hành động không thể chấp nhận được dù với bất cứ lí do nào. Cần có những biện pháp mạnh để ngăn chặn việc hủy hoại môi trường sống, hủy hoại cả tương lai của con người. Bởi rừng không chỉ là lá phổi, là nguồn dưỡng khí giúp ta tồn tại, là nơi bảo vệ ta khỏi hiểm họa hiệu ứng nhà kính… mà hơn hết rừng còn là người bạn trung thành nhất của ta. Nói cách khác, rừng nuôi dưỡng ta cả thể xác lẫn tâm hồn. Nhất là khi cuộc sống ngày càng vội vã, hay một lần đến hòa mình vào thảm thực vật của rừng xanh. Chính nơi ấy sẽ cho ta cảm giác yên bình, thanh thản và nhận thức sâu sắc rằng cần lắm phải bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh. Thật đáng sợ nếu một ngày “hành tinh xanh” của chúng ta không còn màu xanh của lá cây, rừng già. Chính vì thế, chúng ta hãy bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn sống của con người. Hãy giữ mãi sắc xanh hi vọng của “Hành tinh xanh”, giữ cho “lá phổi” của Mẹ Thiên nhiên luôn trong lành.

Và điều quan trọng nhất bây giờ nếu con người còn muốn tồn tại thì chính bản thân mỗi người cần có ý thức trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường đang dần dần bị hủy hoại. Trên đây là những luận điểm, những dẫn chứng mà tôi đưa ra để chứng minh bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Mong rằng mỗi chúng ta đều đặt lên mình nhiệm vụ tuy nhỏ bé nhưng hết sức quan trọng đó là bảo vệ lá phổi, nguồn sống của nhân loại. 

Hướng dẫn soạn bài thành ngữ cho học sinh

Bạn đang cần tìm tài liệu để soạn bài thành ngữ cho môn học của mình? Dưới đây là những kiến thức mà chúng tôi cập nhật để các bạn có thể tham khảo và hiểu hơn về cách soạn bài thành ngữ và có một bài tập hoàn chỉnh nhất khi đến lớp.

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khái niệm thành ngữ:

Thành ngữ là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp; không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ thường được sử dụng trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh.

Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.

a) Cho ví dụ sau: Nước non lận đận một mình

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

– Có thể thay một vài từ trong cụm từ lên thác xuống ghềnh bằng những từ khác được không? Có thể thay đổi vị trí các từ trong cụm từ này được không?

– Cụm từ lên thác xuống ghềnh là thành ngữ, vậy thành ngữ có đặc điểm gì?

Gợi ý: Thành ngữ thuộc loại cụm từ cố định, không thay đổi về cấu tạo trong sử dụng.

b) Hãy giải thích nghĩa của các cụm từ lên thác xuống ghềnh, nhanh như chớp.

Gợi ý: Chú ý tới ý nghĩa được biểu thị thông qua các hình ảnh. Lên thác xuống ghềnh: khó khăn, gian khổ chồng chất, long đong, lận đận liên tục; nhanh như chớp: diễn ra rất nhanh, bất chợt, trong chớp nhoáng.

2. Sử dụng thành ngữ

a) Tìm các thành ngữ trong những câu sau:

– Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non. (Hồ Xuân Hương)

– Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em một cái ngách sang nhà anh, phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang …(Tô Hoài)

b) Các thành ngữ giữ chức vụ ngữ pháp gì trong câu?

c) Phân tích tác dụng của việc dùng thành ngữ trong các câu trên.

Gợi ý: Thành ngữ bảy nổi ba chìm làm vị ngữ trong câu, thành ngữ tối lửa tắt đèn là phụ ngữ của danh từ khi. Cũng có khi thành ngữ làm chủ ngữ trong câu, ví dụ: Mưa to gió lớn làm tan hoang cả khu vườn.; hay làm phụ ngữ cho động từ như: Nó chạy nhanh như chớp. So sánh giữa các thành ngữ với các cụm từ đồng nghĩa để rút ra nhận xét về tác dụng biểu đạt của thành ngữ, ví dụ: so sánh giữa bảy nổi ba chìm với long đong, phiêu dạt khắp nơi; so sánh tắt lửa tối đèn với khó khăn, hoạn nạn

II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi

1. Thế nào là thành ngữ

Câu 1.  – Nhận xét về cụm từ “lên thác xuống ghềnh”.

Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

+ Về cấu tạo: gồm có 4 từ – có nghĩa trái ngược nhau (lên – xuống)

+ Ta không thể thay thế bất cứ từ nào trong cụm từ này và cũng không thể chêm xen một từ khác vào, cũng không thể thay đổi vị trí của các từ trong cụm từ.

= > Bởi cụm từ đã có cấu tạo cố định, các từ tạo nên chúng đã lên kết thành một khối hoàn chỉnh, nếu ta thay đổi nó sẽ trở nên cọc cạch, mất đi sự hoàn chỉnh.

– Kết luận về cụm từ:

+ Cụm từ lên thác xuống ghềnh có cấu tạo cố định

+ Biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh.

Câu 2.  – Tìm hiểu ý nghĩa của cụm từ lên thác xuống ghềnh.

+ Nghĩa đen:  Lên – xuống: chỉ hành động di chuyển ngược chiều nhau Thác – ghềnh: sự khó khăn, nguy hiểm.

+ Nghĩa bóng: là vượt qua những nơi có nhiều gian nan nguy hiểm.

– Ý nghĩa của thành ngữ “Nhanh như chớp” – nghĩa là rất nhanh ta chưa kịp nhìn thấy đã biến mất rồi và đi rất xa. Nói nhanh như chớp – > hàm ý so sánh sự việc và hành động diễn ra nhanh chóng, mau mẹ quá mức.

2. Sử dụng thành ngữ.

Câu 1.  – Xác định vai trò của thành ngữ.

+ Bảy nổi ba chìm – > làm vai trò vị ngữ của câu

+ Tắt lửa tối đèn – > làm bổ ngữ cho động từ phòng.

– Cái hay của hai câu thành ngữ trên.

+ Ngắn gọn, hàm súc tiết kiệm được lời.

+ Tính hình tượng cao vì cho ta nhiều ấn tượng sinh động.

III. Luyện tập

Câu 1. Tìm và giải thích các thành ngữ trong các câu sau đây.

a. – Thành ngữ của câu trên: sơn hào hải vị, nem công chả phượng.

– Nghĩa của thành ngữ:

+ Món ăn quý hiếm trên núi, vị ngon quý hiếm ở biển.

+ Những thức ăn quý hiếm ở mọi nơi được lựa chọn.

b. – Thành ngữ được sử dụng trong đoạn văn của chuyện cổ tích (Thạch Sanh).

+ Tứ cố vô thân

+ Khỏe như voi

– Nghĩa của thành ngữ:

+ Tứ: bốn; cố: quay đầu nhìn lại; vô: không; thân: người thân, bà con họ hàng; đơn độc, không có họ hàng thân tích, không nơi nương tựa.

c. – Thành nữ trong câu thơ trên: da mồi tóc sương.

– Nghĩa của thành ngữ:

+ Da đồi mồi có nổi những chấm đen, xanh, nhất là ở hai bàn tay và mặt; tóc sương là tóc bạc trắng.

= > Con người thay đổi nhan sắc hình dáng, trở nên tàn tạ già nua.

Câu 2. Yêu cầu phải tóm tắt được những sự việc chính yếu nhất. Cuối mỗi bài phải dẫn được câu thành ngữ có liên quan. Tham khảo các bài tóm tắt dưới đây:  Tóm tắt truyện con Rồng cháu Tiên  Tóm tắt truyện ếch ngồi đáy giếng  Tóm tắt truyện thầy bói xem voi

Câu 3. Điền thêm yếu tố để thành ngữ được trọn vẹn.

– Lời ăn tiếng nói

– No cơm ấm áo

– Một nắng hai sương

– Bách chiến bách thắng

– Ngày lành tháng tốt

– Sinh cơ lập nghiệp

Câu 4. Sưu tầm một số thành ngữ chưa được giới thiệu trong SGK và giải thích các thành ngữ ấy.

– Nhà tranh vách đất: nhà có mái bằng tranh, tường làm bằng đất

= > Cảnh nghèo xơ xác.

– Thuần phong mĩ tục: Phong tục, tập quán, lối sống tốt đẹp, mang bản sắc riêng của một dân tộc.

– Vững như bàn thạch: Bàn thạch tức bàn được làm bằng đá

= > Rất vững vàng, không gì lay chuyển được.

– Gan vàng da sắt: Biểu thị phẩm chất cao quý của con người trung thành kiên định không gì lay chuyển.

– Chó cắn áo rách: đã nghèo khổ lại còn gặp thêm tai nạn.

– Ruột nóng như cào: rất sốt ruột, bồn chồn không yên lòng.

– Nhắm mắt làm ngơ: cố tình lảng tránh, làm ra vẻ không hay biết gì về sự việc đang diễn ra.

– Mèo mù vớ cá rán: sự may mắn bất ngờ ngoài khả năng.

Mời các bạn theo dõi tiepsucmuathi.edu.vn để có thêm những tài liệu hữu ích phục vụ cho môn học của mình. Chúc các bạn có một kết quả học tập tốt nhất! 

Cảm Nghĩ Về Người Thân Trong Gia Đình Em

Tình mẫu tử, tình phụ tử là mối quan hệ tình cảm thiêng liêng cao quý nhất trong cuộc đời mỗi con người chúng ta. Người cha, người mẹ luôn được các thi sĩ, nhà thơ dành tặng những ca từ cao quý:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Công lao người cha,sự hi sinh của người cha không gì có thể đo đếm được tựa như núi Thái Sơn ngàn năm hùng vĩ. Trái tim của người mẹ luôn đằm thắm ngọt ngào và chảy dài bất tận tưa  dòng nước ngọt trong nguồn ngàn năm vẫn chảy. Với đề tài” Cảm nghĩ về người thân trong gia đình em“. Con xin được viết về người cha vĩ đại của con. Người đã một đời thầm lặng để đổi lấy cuộc sống đầy ắp tiếng cười cho con cho gia đình.

Cha con với dáng người tầm thước. Làn da ngăm đen chai sạn vì nắng gió. Cha rất ít cười nhưng mỗi khi cha cười thì nụ cười như vỡ òa bao điều hạnh phúc. Ánh lên nơi khóe mắt bao niềm vui.Nhưng…cha ít cười. Đứa con gái ngây thơ hồn nhiên chưa đủ lớn để hiểu được những nhọc nhằn âu lo mà cha phải gánh vác từng giờ. Gia đình đông con, mẹ phải gác chuyện cơm áo gạo tiền ở nhà nội trợ chăm bẵm năm chị em. Chỉ mỗi cha, đôi vai gầy lắc lư trong nắng gió, trong mưa sa gánh cả cuộc đời của bảy miệng ăn.

Nghe nội kể ngày xưa cha học giỏi lắm. Đặc biệt là môn toán. Nhưng vì cha là con trưởng, dưới cha còn 7 em. Cũng như bao người hiếu học cha thèm được đi học lắm. Nhưng nội bảo con đi học cũng được nhưng bảy em con sẽ không có ăn có mặc. Cha run lên bần bật trong tiếng nấc chạy ù ra góc sông. Độ vài ba tiếng cha trở về dõng dạc với nội rằng con không học nữa, con đi đốn củi kiêm tiền phụ mẹ thôi. Nghe nội thuật lại mà nước mắt con lã chã. Thương cha vô cùng. Dường như kiếp khổ kiếp nghèo đeo bám cha suốt quãng đời còn lại. Vì không có bằng cấp như bạn bè cha để làm ông to bà lớn. Cha phải vận lên mình bộ áo màu xanh lá úa,đôi ủng cao su sờn màu, chiếc ba lô con cóc… Cha trồng rừng (trồng keo lấy gỗ) nuôi năm chị em con ăn học.

Ở cái miền quê lam lũ ấy, con trai con gái chỉ học hết cấp 2 là quý lắm rồi. Ấy nhưng năm đứa con của cha,đều học đại học, học nghề. Cha bảo cha đã khổ rồi, cha muốn được học nhưng vì hoàn cảnh. Nay cha không muốn con năm con phải lầm lũi suốt đời như cha. Cha hay gõ đầu con và đùa:” Lo học đi con gái rượu, mai nay có nghề nghiệp rồi chỉ ngồi gõ gõ bàn phím, ăn vận đồ sạch sẽ như mấy chị trên thành phố kia kìa” Rồi cha lại lấy chiếc khăn màu bộ đội lau vội những giọt mồ hôi còn vương lại trên má. Giọt mồ hôi trên gương mặt cha dường như nó còn len vào cả giấc ngủ của con nữa đấy. Bởi cha con có bao giờ được thảnh thơi đâu. Cha con quần quật suốt ngày. Sáng con thức giấc đã không thấy cha đâu rồi. Như một thói quen con luôn hỏi mẹ :

– Cha đâu rồi mẹ? Hỏi vậy thôi nhưng thừa biết câu trả lời là cha đã lên rừng từ tờ mờ sáng.

Và khi con đã yên vị trên bàn ghế học bài thì mới thấy cha về. Mẹ vội đỡ chiếc ba lô con cóc. Cha nhìn con gái ra hiệu học bài đi cha ăn tối đây. Nhìn dáng cha gầy gầy xương xương hốc hác. Nhìn đôi mắt cha trũng sâu vì thiếu giấc. Mà con lại nhói đau nơi lồng ngực. Có lẽ đó là động lực để năm chị em con học nên  người bù đắp cho cha.

Con nhớ có hôm, cha nằm mãi không dậy. Thấy mẹ lo lắng chạy vào chạy ra. Mấy đứa em hốt hoảng khóc lóc. Cha liền thều thào dậy và nói :” Cha giả vờ ốm thôi mà, nín đi,giả vờ ốm để làm biếng ngủ  không dậy đó…” Vâng. Cha vờ ốm! Đôi lúc con lại dại dột nghĩ hay cha cứ ốm đi một tuần để không phải đi rừng nữa. Đêm đó đợi năm chị em con ngủ say. Mẹ khẽ nói cha:

– Mai em đưa anh lên thị trấn khám coi sao? Chứ nằm nhà thế này em và con lo lắm anh à. Cha gạt đi:

– Anh sốt nhẹ thôi. Cuống lên làm con lo. Anh không đi đâu.

– Anh lại tiếc tiền phải không?…

Cha im lặng không nói gì. Cố quay người một góc thở đều đều. Con thương cha lắm. Thương mà không làm được gì. Thương nên bảo ban em cùng nhau cố gắng mai này bù đắp cho cha.

Thời gian ì ạch trôi qua. Ngày con tốt nghiệp cũng đến. Cha háo hức lắm. Cha cười. cười rất tươi, khóe mắt nhăn nhúm lại vẫn cố ánh lên tia sáng ấm áp đến lạ thường. Hai cha con rong ruổi trên đường Nguyễn Chí Thanh ngắm thành phố diễm lệ cờ hoa. Con tủm tỉm bảo cha ngày con đi làm tháng lương đầu sẽ dẫn cha đi ăn những món cha thích, mua những bộ đồ mà cha chưa dám nghĩ tới…

Tháng lương đầu của con và em trai. Thay vì mua bộ áo mới,mua món ăn ngon. Chúng con thay bằng nén nhang , gói bánh…Và là sự câm lặng đến nghẹn lòng! Cha đi rồi. Vĩnh viễn không trở về nữa. Cha vĩnh biệt cõi trần gian đầy khổ ải để về thế giới bên kia. Thương cha, nhớ cha mà thắt đau ở trong lòng. Mà xé nát ruột gan. 6 vành khăn tang trắng xõa dật dờ…khói hương nghi ngút…Giấy bút nào viết được hết nỗi đau…

Cha ơi!

Cứ mỗi lần về thăm lại quê nhà. Ký ức về một mái nhà tranh, về bữa ăn đạm bạc cũng nhường nhau lại ùa về. Nhưng có lẽ đó là khoảng thời gian đẹp nhất của con. Ấm áp nhất của con. Đôi lúc con người ta sống trong vòng tay của cha của mẹ chúng ta không biết trân quý niềm hạnh phúc lớn lao đó. Nhưng các bạn biết không? Trên đời này cái gì bạn cố gắng bạn cũng có thể có. Nhưng bố, mẹ đã mất đi rồi thì có vàng chôn ngọc cất cũng không bao giờ đổi lại được.

Bỗng dưng con chợt nhớ đến câu nói  của một nhà văn nước ngoài  Edward Young : “ Ngôi nhà nhiều tiếng cười cũng là ngôi nhà nhiều phiền muộn” . Ngày bé thơ con không hiểu ý nghĩa câu nói này. Cảm thấy nó vô lý hết sức. Nhưng giờ đây con vô cùng thấm thía câu nói bất hủ  đó. Suốt cuộc đời cha. Cha mang lại niềm vui, cha mang lại sự đủ đầy cho các con. Nhưng các con đâu hiểu được rằng phía sau nụ cười của con là tiếng thở dài mệt mỏi. Là những đắng cay chất chồng…