Soạn bài: Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội

Soạn bài: Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội

Nghị luận xã hội không quá khó. Quan trọng bạn đọc nhiều, có vốn kiến thức xã hội căn bản và nắm được các yêu cầu thì mọi đề nghị luận xã hội bạn đều có thể hoàn thành tốt.

Một số đề nghị luận xã hội để bạn tham khảo:

Đề Nghị luận xã hội 1:

Tình thương là hạnh phúc của con người.

1. Mở bài: Trong cuộc sống nếu không có tình thương thì cuộc sống chỉ là 1 mầu xám ngắt. Tình thương sẽ làm cho cuộc sống tràn ngập tiếng cười, niềm vui và hạnh phúc. Có thể nói “tình thương là hạnh phúc của con người“.

2. Thân bài

a.Giải thích vấn đề

– Tình thương là tình cảm gắn bó giữa người với người, giữa con người với quê hương, đất nước … Tình thương là cơ sở tạo nên vẻ đẹp của xã hội.

– Hạnh phúc là sự sung sướng, toại nguyện. Hạnh phúc chỉ được tìm thấy trong tình yêu thương và khi ta biết yêu thương.

b. Những biểu hiện của tình yêu thương

– Yêu quê hương, đất nước của mình.

– Thương người “như thể thương thân“.

– Tình thương gia đình.

c. Yêu thương là hành động, hành động vì tình thương mới thực sự hạnh phúc.

– Phải biết đấu tranh để bảo vệ đất nước, quê hương.

– Phải biết chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ mọi người.

– Phải biết đỡ đần, gánh vác công việc gia đình giúp cha mẹ.

d. Bình luận

Có thể lấy câu nói của Kim Woo Choong – nhà tỉ phú người Hàn Quốc thay cho lời bình luận: “Khi bạn sống vì mọi người thì thế giới sẽ trở nên tươi sáng, ấm áp và hạnh phúc hơn. Cuộc đời khi đó sẽ trở nên đáng sống và tươi đẹp. Bất cứ thanh niên nào dửng dưng với người khác và chỉ nghĩ đến sự thoải mái, sung sướng cho riêng mình đều rất đáng khinh. Người như thế không chỉ không biết đến những lợi lộc họ nhận được từ xã hội mà rõ ràng họ cũng chẳng biết hạnh phúc là gì“.

3. Kết bài: Bài học rút ra cho bản thân từ vấn đề nghị luận

Trước hết phải khẳng định tình yêu thương là 1 sức mạnh vĩ đại, nó sẽ luôn là niềm hạnh phúc quí giá cho mỗi con người. Bạn hãy cho đi 1 tình thương, bạn sẽ nhận lại 1 tấm lòng, đó chính là hạnh phúc. Cuộc sống sẽ trở nên đẹp biết bao khi con người sống với nhau bằng tấm lòng.

Đề Nghị luận xã hội 2:

Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động“. Ý kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân.

1. Mở bài: Nêu vấn đề nghị luận: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết.

2. Thân bài:

– Giải thích vấn đề nghị luận:

+ Thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người là thái độ như thế nào? (Không quan tâm, không để ý, vô cảm trước những gì xảy ra quanh mình, kể cả việc đúng hay sai, …)

+ Lòng vị tha và tình đoàn kết là gì? (quan tâm, bao dung, gắn bó giữa con người với nhau).

– Suy nghĩ của người viết về vấn đề trên.

+ Khẳng định đây là lời khuyên rất đúng gắn về tư cách ứng xử đối với hành vi thái độ của người xung quanh (khen, chê, ca ngợi, phê phán).

+ Trước một tấm lòng vị tha, trước tình yêu thương đoàn kết nhau, ta ca ngợi biểu dương là rất cần thiết. Lúc đó ta đang góp phần khích lệ cái tốt.

+ Nhưng không chỉ biết ca ngợi cái tốt, tình cảm đẹp mà không chú ý phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người. Biết phê phán một thái độ xấu cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi một lòng tốt vậy. (Bằng dẫn chứng từ đời sống, văn học hãy chứng minh cho lí lẽ đó).

+ Trong cuộc sống của chúng ta hiện nay, vấn đề đó cần thiết không.

3. Kết bài: Bài học rút ra cho bản thân từ vấn đề nghị luận

Đề Nghị luận xã hội 3:

Hãy phát biểu ý kiến của anh (chị) về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình“.

Gợi ý các ý chính:

1. Học để biết: Đó là học để tìm hiểu tri thức, khám phá và giải thích các hiện tượng tự nhiên như lí, hóa…

2. Học để làm: Đó là học để có thể lao động, học lấy một cái nghề để tạo ra của cải vật chất cho xã hội…

3. Học để chung sống: Đó là học giao tiếp ứng xử. Học những điều hay lẽ phải, học những việc làm đúng, chuẩn mực để có thể là một công dân gương mẫu, “sống, học tập, lao động theo hiến pháp và pháp luật“.

4. Học để tự khẳng định mình: Học để chứng minh rằng mình là người có thể thay đổi thế giới, thay đổi được tương lai của bản thân mình.

5. Sự liên hệ của 4 yếu tố trên, đó như là một nấc thang cho sự học. Trước hết là để biết, sau mới để làm, tiếp nữa là để chung sống, và yếu tố cá nhân (khẳng định mình) đặt ở vị trí cuối cùng …

Chúng ta có thể liên hệ với câu tục ngữ “Học ăn, học nói, học gói, học mở“…

Các bài văn mẫu lớp 12: Viết bài làm văn số 1

 

Trên đây là một số đề  Nghị luận xã hội mà bạn nên tham khảo nếu muốn viết văn nghị luận tốt.  Những hướng dẫn này sẽ hỗ trợ đắc lực cho bạn để làm bài. Tuy nhiên quan trọng nhất, bạn vẫn phải nắm vững phương pháp và bố cục của bài làm.

Soạn bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Soạn bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một tư tưởng đạo lý là một vấn đề quan trọng và là một dạng nghị luận xã hội phổ biến và thường xuất hiện trong đề thi. Với dạng bài này bạn cần sử dụng các thao tác lập luận để trình bày vấn đề một cách tốt nhất.

Ghi nhớ SGK Ngữ văn 12 trang 21.

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Bài 1 (trang 21 sgk ngữ văn 12 tập 1)

a, Vấn đề mà tổng thống Ấn Độ Nê-ru nêu ra là văn hóa và những biểu hiện ở con người.

Có thể đặt tên: Con người văn hóa

b, Thao tác lập luận:

+ Giải thích+ chứng minh

+ Phân tích + bình luận

+ Cách diễn đạt rõ ràng, giàu hình tượng

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Bài 2 (trang 22 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Tìm hiểu đề: Nêu suy nghĩ về vai trò lý tưởng đối với mọi người, lý tưởng cá nhân mình

+ Lý tưởng là ngọn đèn soi đường, không có nó thì không có cuộc sống

+ Nâng vai trò của lí tưởng lên tầm cao ý nghĩa của cuộc sống

+ Giải thích quan hệ lí tưởng và ngọn đèn

Phương pháp nghị luận: Phân tích, giải thích, bình luận, chứng minh

– Phạm vi tư liệu: Cuộc sống

Lập dàn ý

MB: Giới thiệu, dẫn dắt tư tưởng, đạo lý cần nghị luận

TB: Giải thích bàn luận về ý nghĩa câu nói Lep Tôn-x tôi

+ Lí tưởng là đích con người hướng tới

+ Cuộc sống ở trong câu nói chỉ giá trị sống trên cõi đời của mỗi người

+ Lý tưởng là ngọn đèn chủ đường”: lí tưởng thì hành động của con người không có phương hướng, lạc đường

+ Suy nghĩ về vai trò lý tưởng đối với cuộc sống của con người

+ Lý tưởng sống tầm thường, nhỏ bé, ích kỉ, có thể làm lại cuộc đời của một người và nhiều người

+ Lý tưởng sóng đẹp đẽ, tạo ra sự sáng tạo, niềm vui cuộc sống

– Bình luận câu nói của Lép Tôn-x tôi:

+ Con người sống phải biết lựa chọn lí tưởng và có hướng phấn đấu

+ Mỗi học sinh cần xác định rõ ràng mục tiêu, lý tưởng

KB: Khái quát lại vấn đề. Nêu bài học nhận thức cho bản thân

 

Trên đây là một số đề cơ bản trong nghị luận về một tư tưởng, đạo lí mà bạn nên tham khảo. Với dạng bài này đa phần cách làm đều giống nhau. Chỉ cần bạn sử dụng các phương pháp nghị luận thành thục và ghi nhớ các yêu cầu đối với văn nghị luận chắc chắn sẽ có kết quả tốt.

Soạn bài: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 01/12/2003

Soạn bài: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 01/12/2003

Phòng chống AIDS là một vấn đề đang được cả xã hội quan tâm. Hơn nữa ngày nay tư tưởng kỳ thị vẫn còn nên thông điệp này càng có sức lan tỏa hơn.

Câu 1 (trang 82 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Bản thông điệp nêu lên vấn đề chống AIDS

– Đó là vấn đề cần đặt lên “vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế” của mỗi quốc gia:

+ HIV/ AIDS là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết của toàn nhân loại và đe dọa tới cuộc sống của nhân dân toàn thế giới

+ Đại dịch AIDS đang hoành hành với tốc độ lây lan đáng báo động, nhất là ở phụ nữ và chưa có nguy cơ thuyên giảm

– Những thử thách cạnh tranh trong lĩnh vực quốc tế không quan trọng hơn vấn đề AIDS

Câu 2 (Trang 82 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Tổng thư kí Liên hợp quốc đã để việc tổng kết tình hình thực tế của mình không chỉ trung thực đáng tin cậy mà còn là cơ sở để ông nêu lên những kiến nghị trước đó

– Chỉ ra những kết quả đạt được:

+ Ngân sách phòng chống HIV/ AIDS tăng lên đáng kể

+ Qũy toàn cầu về chống AIDS, lao, sốt rét được thông qua

+ Nhiều công ty áp dụng phòng chống HIV/ AIDS tại nơi làm

+ Các nhóm từ thiện cộng đồng có nhiều hoạt động tích cực

– Vẫn còn những tồn tại:

+ Dịch HIV/ AIDS vẫn hoành hành và chưa có dấu hiệu giảm

+ Tốc độ nhiễm HIV: 10 nghìn người/ phút

+ Tuổi thọ người dân suy giảm

+ HIV/ AIDS ở phụ nữ với số lượng lây nhiễm nhiều

⇒ Cách trình bày ngắn gọn, mạch lạc, số liệu thống kê đầy đủ, chính xác

Soạn bài: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 01/12/2003

Câu 3 (trang 83 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Trong bài lời kêu gọi của mình ông nhấn mạnh:

+ Thậm chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với những người bị HIV/ AIDS

b, Tác giả là người:

+ Có trái tim nhân hậu, chan chứa tình yêu thương, có tấm lòng nhân đạo sâu sắc

+ Có tầm nhìn sâu rộng, luôn quan tâm tới vận mệnh loài người

+ Phụng sự cho sự ổn định tốt đẹp của nhân loại

– Bài viết có sức thuyết phục mạnh mẽ:

+ Kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố chính luận với giọng văn trữ tình thấm đượm cảm xúc của tác giả

+ Cách lập luận chặt chẽ, đáng tin cậy bởi tác giả đưa ra dẫn chứng thực trạng, hướng tới lời kêu gọi mọi người

→ Bài viết có sức thuyết phục, lôi cuốn

Câu 4 (trang 83 ngữ văn 12 tập 1)

Những câu văn cảm động:

– Hãy đừng để một ai đó…đồng nghĩa với cái chết.

– Hãy cùng chúng tôi đánh đổ thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử bao vây quanh bệnh dịch này.

– Trong cuộc sống chỉ có tình thương chân thành… dè dặt im lặng vô ích

Vì: những câu văn giản dị, chân thành, thiết tha thể hiện tâm huyết của người viết.

– Bài học cho việc làm văn nghị luận:

+ Lập luận chặt chẽ, logic

+ Dẫn chứng thuyết phục, sát thực

+ Bài viết thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan điểm rõ ràng

+ Lời văn giàu sức thuyết phục

Trình bày bản báo cáo với đầy đủ những nội dung

– Quốc hiệu ,tiêu ngữ

– Địa điểm, thời gian, người làm báo cáo

– Tên: BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH PHÒNG CHỐNG HIV/ AIDS TẠI ĐỊA PHƯƠNG

– Nơi gửi

– Nội dung báo cáo: hiện trạng người mắc HIV/ AIDS, biện pháp phòng chống của địa phương, mục tiêu..

– Ký rõ họ tên

Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 01/12/2003

Soạn bài: Viết bài làm văn số 2: Nghị luận xã hội

Soạn bài: Viết bài làm văn số 2: Nghị luận xã hội

Một số đề nghị luận xã hội dưới đây sẽ giúp bạn thực hành tốt hơn. Nghị luận xã hội có rất nhiều dạng bài nhưng chung quy chỉ cần bạn nắm được các yêu cầu cơ bản thì bạn có thể làm tốt mọi dạng đề.

ĐềNghị luận xã hội 1:

Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.

Nêu vấn đề: Nêu sự cấp bách và tầm quan trọng hàng đầu của việc phải giải quyết vấn đề giảm thiểu tai nạn giao thông đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay.

– Giao thông là hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội.

– Tai nạn giao thông là tai nạn do các phương tiện tham gia giao thông gây nên: đường bộ, đường thủy, đường sắt… trong đó phần lớn các vụ tai nạn đường bộ.

a. Nguyên nhân dẫn đến Tai nạn giao thông:

– Khách quan: Cơ sở vật chất, hạ tầng còn yếu kém; phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh; do thiên tai gây nên…

– Chủ quan:

+ Ý thức tham gia giao thông ở một số bộ phận người dân còn hạn chế, đặc biệt là giới trẻ, trong đó không ít đối tượng là học sinh.

+ Xử lí chưa nghiêm minh, chưa thỏa đáng. Ngoài ra còn xảy ra hiện tượng tiêu cực trong xử lí.

b. Hậu quả: gây tử vong, tàn phế, chấn thương sọ não…

Theo số liệu thống kê của WHO ( Tổ chức y tế thế giới): Trung bình mỗi năm, thế giới có trên 10 triệu người chết vì tai nạn giao thông. Năm 2006, riêng Trung Quốc có tới 89.455 người chết vì các vụ tai nạn giao thông. Ở Việt Nam con số này là 12,300. Năm 2007, WHO đặt Việt Nam vào Quốc gia có tỉ lệ các vụ tử vong vì tai nạn giao thông cao nhất thế giới với 33 trường hợp tử vong mỗi ngày.

Tai nạn giao thông đang là một quốc nạn, tác động xấu tới nhiều mặt trong cuộc sống:

Do đó, giảm thiểu tai nạn giao thông là là yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa lớn đối với toàn xã hội.

c. Thanh niên, học sinh cần có hành động góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông

– Tuyên truyền cho mọi người biết tác hại và hậu quả nghiêm trọng của tai nạn giao thông.

– Tự giác nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ an toàn giao thông khi tham gia giao thông.

– Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật giao thông. Cùng giương cao khẩu hiệu “Nói không với phóng nhanh vượt ẩu“, “An toàn là bạn, tai nạn là thù“…

– Thành lập các đội thanh niên tình nguyện xuống đường làm nhiệm vụ.

– Phát hiện và báo cáo kịp thời với các cơ quan đoàn thể nơi gần nhất những trường hợp vi phạm an toàn giao thông.

ĐềNghị luận xã hội 2:

Hiện nay, nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp. Anh chị hãy bài tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.

Đặt vấn đề:

Chăm sóc và bảo vệ trẻ em lang thang cỡ nhỡ là trách nhiệm của toàn xã hội.

Giải quyết vấn đề:

* Thực trạng trẻ em lang thang cơ nhỡ:

– Theo số liệu của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, năm 2003 cả nước có trên 21.000 trẻ em lang thang cơ nhỡ, đông nhất là ở TP.HCM với 8.500 em. Năm 2008, mặc dù đã được các cá nhân, tổ chức thu nhận về những mái ấm tình thương để nuôi dạy nhưng hiện vẫn còn trên 10.000 trẻ em không nơi nương tựa. Con số này không ngừng gia tăng.

– Trẻ em đường phố đối diện với nguy cơ thất học cao và rơi vào tệ nạn xã hội.

– Trẻ em đường phố đang có nguy cơ phạm tội ngày càng tăng; nạn xin ăn tràn lan ảnh hưởng tới văn minh đô thị.

– Trẻ em đang bị bóc lột sức lao động và nguy cơ bị xâm hại tình dục rất cao.

* Nguyên nhân

– Do đói nghèo: Trẻ đường phố thường xuất thân từ các gia đình nông dân nghèo hoặc gia đình mà bố mẹ không có việc làm, khó khăn về kinh tế và đông con (77% trẻ bỏ nhà ra đi vì gia đình nghèo khổ).

– Do tổn thương tình cảm như: bị gia đình ruồng bỏ, từ chối hoặc đánh đập (23%).

– Còn lại là do mồ côi hoặc các trường hợp bố mẹ li hôn.

* Hiện nay, những “mái ấm tình thương” đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta, nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.

* Ý nghĩa:

Chăm sóc và bảo vệ trẻ em lang thang cơ nhỡ là trách nhiệm không chỉ của cá nhân mà còn là của toàn xã hội. Điều này không chỉ có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa kinh tế mà quan trọng hơn là giúp cho các em hướng thiện, đưa các em đi đúng với quỹ đạo phát triển tích cực của xã hội. Đây là tình cảm tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách… biểu hiện của truyền thống nhân đạo ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam.

* Các tổ chức cá nhân tiêu biểu:

Tổ chức: Làng trẻ em SOS; Làng trẻ em Hòa Bình ( Từ Dũ); Cô nhi viện Thánh An ( Giáo phận Bùi Chu, Xuân Trường, Nam Định); Chùa Kì Quang II ( Gò Vấp); Chùa Bồ Đề (Huế)…

Cá nhân: Mẹ Phạm Ngọc Oanh ( Hà Nội) với 800 đứa con tình thương; Anh Phạm Việt Tuấn với mái ấm KOTO ( Hà Nội); Thầy Koyama với mái ấm tình thương 37, Nguyễn Trãi, Huế…

* Quan điểm và biện pháp nhân rộng

Quan điểm: Có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng trẻ em lang thang cơ nhỡ từ đó nâng cao tình cảm và trách nhiệm đối với hiện tượng ấy. Lên án và kịp thời phát hiện, tố cáo những kẻ bóc lột sức lao động và xâm hại trẻ em.

ĐềNghị luận xã hội 3:

Hãy trình bày quan điểm của mình trước cuộc vận động “nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.

1.Tìm hiểu đề

2. Lập dàn ý

a. Mở bài: Nêu hiện tượng, trích dẫn đề, phát biểu nhận định chung…

b. Thân bài:

– Phân tích hiện tượng.

+ Hiện tượng tiêu cực trong thi cử trong nhà trường hiện nay là một hiện tượng xấu cần xoá bỏ, nó làm cho học sinh ỷ lại, không tự phát huy năng lực học tập của mình…

+ Hiện tượng lấy tỉ lệ để nâng thành tích của nhà trường.

–> Hãy nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.

– Bình luận về hiện tượng:

+ Đánh giá chung về hiện tượng.

+ Phê phán các biểu hiện sai trái: Thái độ học tập gian lận; Phê phán hành vi cố tình vi phạm, làm mất tính công bằng của các kì thi.

c. Kết bài

– Kêu gọi học sinh có thái độ đúng đắn trong thi cử.

– Phê phán bệnh thành tích trong giáo dục.

 

Với nghị luận xã hội bạn nên đọc nhiều và nắm vững kết cấu cơ bản của bài sẽ có thể làm tốt. Chúc bạn hoàn toàn chinh phục dạng đề này.

Soạn bài: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

Soạn bài: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là một trong những vấn đề cần quan tâm khi làm văn nghị luận. Bài thơ, đoạn thơ có thể cảm thụ sâu sắc hay không tùy thuộc vào phương pháp của bạn. Hãy cùng tham khảo quy chuẩn về nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

Tìm hiểu đề: xác định đề bài, yêu cầu nội dung, phương pháp, phạm vi tư liệu

Dàn ý Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

MB: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ được phân tích

TB:

– Hoàn cảnh sáng tác, phong cách sáng tác, nội dung chính, vị trí thơ…

– Bàn về giá trị nội dung, nghệ thuật

– Có thể phân tích từng khổ, từng dòng

– Phân tích hình tượng thơ, chỉ ra biện pháp nghẹ thuật, phân tích nhịp điệu, cấu tứ

KB: Khẳng định, đánh giá chung về bài thơ

Dàn ý:

MB: Giới thiệu về Huy Cận, bài thơ Tràng Giang và đoạn thơ phân tích

TB: Nêu hoàn cảnh sáng tác, cảm xúc bao trùm bài

– Nội dung bao quát cảnh và tình trong toàn bộ bài thơ

+ Hai câu thơ đầu: Cảnh thiên nhiên lúc chiều tà

+ Một nét vẽ mây núi hùng vĩ

+ Một cánh chim nhỏ tựa bóng chiều

– Thủ pháp tương phản: nỗi lòng cô đơn, nhỏ bé, chấp chới giữa dòng đời

+ Hai câu thơ thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ quê dâng ngập lòng người, nỗi khao khát tìm chỗ dựa cho tâm hồn

Nghệ thuật dùng từ láy âm “dờn dợn” lấy cái không có ngoại cảnh để nói cái có ở lòng người

Đánh giá nội dung và nghệ thuật đoạn thơ

+ Đoạn thơ nói lên nỗi niềm bơ vơ, buồn bã của “cái tôi” trữ tình, cảm xúc hướng về quê hương

+ Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển ở hình thức ngôn ngữ, ở bút pháp tả cảnh ngụ tình

KB: Đánh giá chung về đoạn thơ

 

Trên đây là các yếu tố cơ bản trong quá trình làm Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ mà bạn nên nắm chắc. Chỉ khi nắm chắc các kiến thức nền bạn mới có thể phát triển lên và thực hành làm tốt các bài tương tự được.

Soạn bài: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Soạn bài: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học là hình thức nghị luận văn học (nội dung bình luận, phân tích ý kiến đối với văn học). Người viết biết cách giải thích đúng đắn nội dung của ý kiến đối với văn học, biết nhận định, đánh giá.

Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Đề 1 (trang 93 sgk ngữ văn 12 tập 1)

MB:

Giới thiệu, trích dẫn ý kiến của Thạch Lam về văn chương

– Nêu cảm nhận cá nhân về ý kiến đó

TB:

– Giải thích ý kiến:

+ Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực: văn chương được xem là công cụ giúp nhà văn hoàn thành sứ mệnh thời đại

+ Văn chương tác động trực tiếp đến tình cảm của con người

– Tố cáo và thay đổi thế giới giả dối, tàn ác làm cho lòng người đọc trở nên trong sạch và phong phú hơn:

+ Văn chương vạch trần, phê phán những cái xấu xa của xã hội, đòi hỏi diệt trừ, thay thế nó

+ Bồi đắp tinh thần, xây dựng lối sống trong sạch, thanh lọc con người

Bình luận, cảm nhận:

– Thạch Lam tự hào khi sử dụng vũ khí là ngòi bút văn chương

+ Nhận xét đúng đắn, khái quát, sát với thực tế

+ Ý thức được nguồn sức mạnh to lớn, cao cả của văn chương

+ Hiểu rõ tương quan giữa hai nhiệm vụ (phản ảnh và xây dựng tâm hồn)

+ Đầy niềm tin vào khả năng của văn học, khả năng tự bồi đắp tâm hồn con người

KB:

Khẳng định sự đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của văn chương đối với đời sống

Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Đề 2 (trang 93 sgk ngữ văn 12 tập 1)

MB:

Giới thiệu trích dẫn lời phê bình của Hoài Thanh

Nêu nhận định của bản thân về ý kiến đó

TB:

– Giải thích ý kiến của tác giả Hoài Thanh:

+ Trình bày một số nguyên nhân thành công của thơ Tố Hữu

+ Do năng khiếu bẩm sinh, truyền thống của gia đình, quê hương

+ Nguyên nhân chính “thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mạng là nguyên nhân chính” dẫn tới sự thành công trong thơ của ông

– Chứng minh nhận định:

+ Tác giả Tố Hữu là người toàn tâm, toàn ý với cách mạng, luôn suy nghĩ, trăn trở, lo toan với mọi đau khổ, sướng vui của chặng đường lịch sử

+ Tình cảm, tâm tư chân thành, tha thiết của nhà thơ cách mạng chính là thi liệu để ông viết nên những vần thơ trữ tình chính trị

+ Ở tác giả có sự thống nhất, hài hòa giữa con người với thơ ca

( Có thể lấy các tác phẩm như Việt Bắc, Từ ấy… để minh chứng)

– Thơ Tố Hữu là sự phản chiếu tâm hồn cách mạng vào thơ ca.

KB:

– Khẳng định nhận định của Hoài Thanh phù hợp với sáng tác của Tố Hữu, phù hợp với lí luận thơ ca

– Thơ Tố Hữu thành công rực rỡ về thể loại thơ ca cách mạng

 

Trên đây là một số bài cơ bản trong chuỗi đềNghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Với mỗi thể loại khác nhau sẽ có cách ứng dụng và thực hành khác nhau. Vì vậy, bạn hãy áp dụng các biện pháp này để có được cách phân tích chính xác nhất.

Soạn bài: Luật thơ (Tiếp theo)

Soạn bài: Luật thơ (Tiếp theo)

Trong thơ cần tuân thủ luật thơ chặt chẽ. Mỗi thể thơ đều có một cách gieo vần và ngắt nhịp khác nhau. Dưới đây là một số ví dụ để bạn tham khảo về cách thực hành luật thơ.

Xem thêm: Soạn bài: Luật thơ

Luật thơ Câu 1:

So sánh những nét giống nhau và khác nhau về cách gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh trong luật thơ ngũ ngôn truyền ở bài Mặt trăng (mục II.3 trang 103-104 SGK) với đoạn thơ năm tiếng bài Sóng của Xuân Quỳnh.

Sóng là bài thơ ngũ ngôn hiện đại, Mặt trăng là thơ ngũ ngôn truyền thống, hai bài thơ có những điểm giống và khác nhau:

a. Giống nhau:

– Mỗi câu có năm tiếng.

– Đều có thể dùng vần chân, vần liền, vần lưng, vẫn cách, …

– Các thanh bằng trắc cũng có thể đối nhau, nhất là những vị trí quan trọng.

b. Khác nhau:

Luật thơ Câu 2:

Phân tích cách gieo vần, ngắt nhịp khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Tâm Tâm để thấy sự đổi mới, sáng tạo trong thể thơ bảy tiếng hiện đại so với thất ngôn truyền thống.

– Cách gieo vần: gieo vần chân ở cuối câu thơ thứ 1, thứ 2 và thứ 4: sông, lòng, trong. Đây là vần bằng (B).

– Cách ngắt nhịp: hai câu 3 và 4 theo cách ngắt nhịp của thất ngôn truyền thống; nhưng hai câu 1 và 2 lại ngắt nhịp 2-5 cho phù hợp với tình cảm và cảm xúc của tác giả trong buổi đưa tiễn người bạn lên đường.

Luật thơ Câu 3:

Ghi lại mô hình luật bài Mời trầu

Luật thơ Câu 4:

Tìm những yếu tố vần, nhịp và hài thanh của khổ đầu bài thơ Tràng giang của Huy Cận để chứng minh ảnh hưởng của thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ mới.

– Gieo vần: vần chân, gieo vần cách (song, dòng) và là vần bằng (B)

– Ngắt nhịp: 4-3 (như cách ngắt nhịp trong thể thơ thất ngôn bát cú)

– Hài thanh: theo đúng mô hình của thể thơ thất ngôn bát cú (đã ghi các thanh bằng (B) và trắc (T) ở các tiếng thứ 2, 4, 6 trên bốn dòng thơ).

 

Một số ví dụ về cách thực hành luật thơ dưới đây sẽ đặc biệt hữu ích cho bạn. Hy vọng bạn đã nắm được luật thơ cơ bản để ứng dụng vào các bài thơ thực tiễn.

 

Soạn bài: Luật thơ

Soạn bài: Luật thơ

Luật thơ là một trong những yêu cầu bắt buộc khi bạn sáng tác thơ. Nó bao gồm số câu, số chữ, cách hiệp vần, hài thanh, ngắt nhịp…

Quy tắc luật thơ.

1. Luật thơ là toàn bộ những quy tắc về số câu, số tiếng, cách hiệp vần, phép hài thanh, ngắt nhịp…

2. Trong luật thơ, tiếng là đơn vị quan trọng. Số tiếng định hình dòng thơ, sự phối hợp của thanh điệu của tiếng. Sự kết hợp của tiếng, sự liên kết bằng vần, của tiếng, sự đối lập hay kết dính, sự ngắt nhịp

3. Các thể thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn Đường luật, thất ngôn Đường luật. Các thể thơ hiện đại: thơ bốn tiếng, thơ năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng… thơ tự do và thơ văn xuôi

a, Ví dụ:

– Xét hai câu thơ bảy tiếng:

– Gieo vần lưng, vần trắc (nguyệt- mịt)

– Nhịp 3/4

– Hài thanh: Tiếng thứ 3 mỗi dòng thanh bằng (Thành – Tuyền)

b, Trong bài Cảnh khuya

– Gieo vần chân, vần cách (hoa – nhà)

– Nhịp 4/3

– Hoài thanh: theo mô hình

 

Trên đây là luật thơ cơ bản và một số ví dụ để bạn tham khảo. Tùy thuộc vào thể thơ mà sẽ có các yêu cầu khác nhau về cách gieo vần, ngắt nhịp. Tuy nhiên nó cũng chỉ xoay quanh các vấn đề như trên.

Soạn bài: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm

Soạn bài: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm

Một số phép tu từ ngữ âm như các thanh, ngắt nhịp, lặp… là những yếu tố thường xuất hiện trong thơ văn. Khi áp dụng linh hoạt các phép tu từ ngữ âm thì câu văn của bạn đọc lên sẽ mạch lạc, trôi chảy và sâu sắc hơn.

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Câu 1 (trang 129 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Sự phối hợp nhịp ngắn với nhịp dài:

+ Một dân tộc – gan góc – chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm: nhịp 3/3/11

+ Dân tộc đó – phải được tự do; Dân tộc đó – phải được tự do: ngắt 3/ 4

– Sự thay đổi thanh bằng, thanh trắc cuối mỗi nhịp:

+ tộc (T), góc (T) hai bộ phận câu này đều giống nhau, cân xứng với nhau

+ đó (T), do (B); đó (T), lập (T)

Tính chất mở hay đóng của âm tiết kết thúc mỗi nhịp:

+ tộc, góc (đóng); nay (mở)

+ đó (đóng); do (mở)

+ đó (đóng); lập (mở)

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Câu 2 (trang 129 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Để tạo ra sự hùng hồn, thiêng liêng trong lời kêu gọi cứu nước, đoạn văn sử dụng:

– Phép điệp, phối hợp với phép đối. Không chỉ điệp (lặp) từ ngữ mà lặp cả kết cấu ngữ pháp và nhịp điệu.

Ở câu đầu được lặp lại 4/2/4/2, tạo ra sự đối xứng về từ ngữ, nhịp điệu, kết cấu ngữ pháp

Nhịp 3/2, 3/2 Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm…

– Câu văn xuôi nhưng có vần ở một vị trí (bà và già, súng và súng)

– Sự phối hợp giữa những nhịp ngắn (đầu câu 1,2,3) với những dịp dàn trải (vế cuối câu 1,4) tạo nên âm hưởng khi khoan thai, dồn dập mạnh mẽ phù hợp với lời kêu gọi

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Câu 3 (trang 130 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Nhịp điệu lời văn khi nhanh, chậm thể hiện sự hào hứng, niềm vui, tự hào của tác giả đối với hình ảnh cây tre

– Nhịp ngắn, dứt khoát, mạnh mẽ

– Nhân hóa về từ vựng và việc sử dụng nhiều động từ chỉ hoạt động (chống, xung phong, giữ, hi sinh, bảo vệ)

– Hai câu cuối lặp từ ngữ, lặp kết cấu ngữ pháp, ngắn gọn, không dùng động từ, ngắt nhịp sau từ “tre” tạo điểm nhấn như lời ngợi ca công trạng của cây tre

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Câu 1 (trang 130 sgk ngữ văn 12 tập 1):

a, Lặp phụ âm đầu (l) trong 4 tiếng: lửa lựu lập lòe thể hiện trạng thái ẩn hiện trong không gian rộng của hoa lựu

b, Có sự hợp âm của các từ làn- lóng lánh- loe tạo ra sự lan tỏa, ánh sáng của ánh trăng trên bề mặt ao

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Câu 2 (trang 130 sgk ngữ văn 12 tập 1):

– Trong đoạn thơ Tố Hữu, vần ang lặp tới 7 lần (bàng, đàng, giang, mang, đang, ngang, sang)

– Vần ang là vần mở rộng tạo nên cảm giác mở rộng, lan ra không gian mênh mông, thích hợp không khí mùa xuân đang về với mọi người.

Cảm xúc được gợi thông qua phép điệp vần

Soạn bài: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Câu 3 (trang 131 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Đoạn thơ gợi ra khung cảnh vùng rừng núi hiểm trở, khúc khuỷu trên đường hành quân vất vả, gian lao của những người lính

– Nhịp điệu 4-3 ở ba câu thơ đầu

– Sự phối hợp các thanh T và B ở ba câu thơ đầu, câu thơ đầu thiên về vần T, câu 4 toàn vần B

→ Gợi không gian hiểm trở làm nổi bật hình ảnh những người lính Tây Tiến dũng mãnh, quả cảm

– Cuối khổ thơ toàn vần B gợi tả không khí thoáng đãng, rộng lớn trải trước mặt khi vượt qua con đường gian lao

– Các từ láy gợi hình: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút.

– Sử dụng phép đối từ: Dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm thẳm; ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống

Phép lặp từ ngữ: dốc, ngàn thước

Phép nhân hóa: súng ngửi trời

→ Khung cảnh núi rừng hiểm trở, tính khốc liệt của cuộc hành quân

 

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm là một trong những bài bạn cần học để có thể phân tích tác phẩm. Bởi các tác giả khi viết họ cũng thường sử dụng các phép tu từ ngữ âm để chuyển tải ý nghĩa của mình. Chẳng hạn, với thơ, cách ngắt nhịp khác nhau sẽ có dụng ý khác nhau và ý nghĩa cũng sẽ khác nhau.

Soạn bài Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

Soạn bài Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

Nghị luận văn học tức là bàn về tác phẩm, tác giả cùng với những giá trị, dụng ý mà tác giả muốn truyền tải trong tác phẩm. Để làm được điều đó bạn cần phải có vốn kiến thức chắc chắn về tác phẩm. Cũng như thực hành nhiều để viết tốt hơn. Dưới đây là một số đề bài mà bạn có thể tham khảo:

Nghị luận văn học Câu 1:

a. Tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” (Tố Hữu) được biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh họa.

Mở bài

– Giới thiệu tác giả,tác phẩm

– Tính dân tộc trong thơ

Thân bài

1. Giới thiệu ngắn gọn về vị trí văn học sử của bài thơ và đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu: Việt Bắc là 1 đỉnh cao trong sự nghiệp thơ của Tố Hữu. Bài thơ đã kết tinh được tính dân tộc đậm đà – một trong những đặc điểm nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu

2. Tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” (Tố Hữu) được biểu hiện ở nội dung và hình thức nghệ thuật.

a. Tính dân tộc biểu hiện trong nội dung

– Đề tài chia tay giàu tính dân tộc: Cuộc chia tay lịch sự của những cán bộ cách mạng miền xuôi và các đồng bào dân tộc được tác giả ví như đôi bạn tình.

– Chủ đề đậm đà tính dân tộc :

+ Dựng lên bức tranh thiên nhiên, cuộc sống Việt Bắc chân thực, sống động, nên thơ, gợi cảm (bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người Việt Bắc). Hiện thực sôi động hào hùng của những cuộc kháng chiến (Những đường Việt Bắc của ta, dạo miền ngược, …thêm trường các khu …)

+ Khẳng định nghĩa tình gắn bó thắm thiên của những con người Việt Bắc,với nhân dân,với đất nước. Đó là ân tình cách mạng mà chiều sâu là truyền thống đạo lí thủy chung của dân tộc … Đây cũng là lẽ sống lớn, tình cảm lớn tập trung trong thơ của Tố Hữu.

b. Tính dân tộc biểu hiện trong các hình thức ngệ thuật

+ Sử dụng thành công thể thơ lục bác vừa cổ điển, vừa dân dã, vừa hiện đại (Mình có nhớ những ngày … Tân trào hồng thái …)

+ Vận dụng hiệu quả lời ăn, tiếng nói giản dị của nhân dân trong đời sống và ca dao (Tiêu biểu đại từ ta – mình)

+ Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết (đại từ ta – mình, điệp ngữ mình đi / mình về, các tiểu đối, hệ thống từ láy: tha thiết, bâng khuâng,… )

Đánh giá: Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đà từ nội dung trữ tình tới nghệ thuật tữ tình. Vì thế, bài thơ dễ dàng tạo được tiếng nói đồng ý, đồng tình của người đọc.

Kết bài

– Bạn tự mình nêu cảm nghĩ nhé.

b. Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền tây Bắc Bộ và những người đồng đội qua đoạn thơ:

– Giới thiệu tác giả, bài thơ và đoạn thơ phân tích.

– Tâm trạng tác giả gửi gắm trong đoạn thơ là nỗi nhớ núi rừng miền Tây gắn với những chặng đường hành quân của Tây Tiến, nhớ đồng đội một thời chiến đấu.

+ Hai câu đầu là nỗi nhớ Sông Mã – nhớ núi rừng miền Tây, nhớ Tây Tiến – chơi vơi, da diết, bâng khuâng.

+ Sáu câu tiếp theo: Nhớ núi rừng miền Tây hùng vĩ, mĩ lệ nhưng cũng hết sức hiểm trở, dữ dội. Hình ảnh người lính vượt đèo dốc “ngàn thước” mệt mỏi nhưng tâm hồn vẫn bay bổng, lạc quan.

– Nhớ đồng đội trong những cuộc hành quân “dãi dầu“, “bỏ quên đời” khi tuổi đời còn rất trẻ, khốc liệt nhưng cũng hết sức hào hùng.

– Nhớ ân tình ngọt ngào của nhân dân Tây Bắc dành cho người lính.

Cuối cùng đánh giá tình cảm của Quang Dũng đối với Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến.

Soạn bài Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

Nghị luận văn học  Câu 2:

a. Vẻ đẹp bi tráng cùa hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

* Giới thiệu Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến; nêu vấn đề bình luận (chất lãng mạn trong bài thơ)

* Giải thích khái niệm: Lãng mạn là những sự bay bổng, thăng hoa trong cảm xúc mang tính chủ quan. Lãng mạn tích cực, lãng mạn cách mạng đó là ước mơ, hướng tới cái chưa có trong thực tế bằng niềm tin tưởng lạc quan; những rung động về lí tưởng cao đẹp có ở những con người có chí hướng hoài bão, những bay bổng trong tâm hồn khi tiếp cận với đối tượng gợi cảm …

* Bình luận chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến:

– Chất lãng mạn thể hiện ở cảm xúc hướng về những vẻ đẹp khác lạ của cảnh và người Tây Bắc.

+ Núi rừng miền Tây hùng vĩ, mĩ lệ, dữ dội mà nên thơ.

+ Con người miền Tây với vẻ đẹp đậm màu sắc dân tộc (tình tứ, e ấp trong điệu khèn, điệu múa, dáng người trên chiếc thuyền độc mộc trôi theo dòng lũ vừa rắn rỏi, dũng cảm, vừa mềm mại, uyển chuyển, …)

– Chất lãng mạn thể hiện ở bút pháp xây dựng hình ảnh một đoàn quân dũng cảm, kiêu hùng, tự nguyện hi sinh cho đất nước:

+ Lí tưởng cao đẹp

+ Kiêu dũng, can trường, ngạo nghễ với gian khổ, sẵn sàng xả thân vì đất nước.

+ Tâm hồn mộng mơ, tinh tế.

+ Lạc quan

* Đánh giá vấn đề. Ý nghĩa của chất lãng mạn đối với bài thơ về chiến tranh? Đối với người lính Tây Tiến.

b. Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau:

* Giới thiệu tác giả, bài thơ, đoạn thơ.

* Cảnh và người Việt Bắc rải rác trong toàn bộ bài thơ nhưng kết tinh ở đoạn thơ này những vẻ đẹp đặc sắc, tinh túy nhất.

– Hai câu đầu đoạn: Khẳng định nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc.

– Tám câu còn lại là những nét ấn tượng nhất về cảnh và người.

+ Thiên nhiên bốn mùa với hình ảnh, âm thanh, sắc màu sống động, rực rỡ (màu đỏ như lửa của hoa chuối, màu trắng thơ mộng thanh khiết của hoa mơ, màu vàng rực rỡ, chói chang của rừng phách, tiếng ve ngày hè, vầng trăng thu thanh bình, yên ả, …)

+ Con người Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất đáng trân trọng (tự tin, khéo léo, cần mẫn, chịu thương chịu khó và giàu nghĩa tình, …)

* Đánh giá vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc.

Nghị luận văn học Câu 3:

a. Câu thơ “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

(Đất nước, Nguyễn Khoa Điềm) có nét tương đồng với những lời ca dao nào? Phân tích ngắn gọn ý nghĩa câu thơ này trong sự đối chiếu, so sánh với những bài ca dao mà anh chị đã liên tưởng.

Những câu hỏi Đất nước có từ khi nào? không được trả lời bằng một thời điểm cụ thể mà bằng chất liệu dân gian, là phong tục tập quán có từ lâu đời “Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bây giờ bà ăn” gắn liền với phong tục có từ lâu đời “Miếng trầu là đầu câu chuyện“, cũng với ý nghĩa thế hiện sự gắn bó keo sơn tình cảm giữa người với người. Câu “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” nêu cao giá trị tinh thần giàu tình cảm, giàu ân nghĩa thuỷ chung:

Tình cảm lứa đôi, vợ chồng cũng sâu sắc mặn mà như gừng, như muối. Câu ca dao so sánh thật giản đơn nhưng cũng thật ý nghĩa. Đó chính là sự chia sẻ đắng cay ngọt bùi, là sự thề nguyền suốt đời gắn bó, thuỷ chung. Đất nước có từ ngày đó; từ ngày con người Việt Nam có phong tục tập quán, có ân nghĩa thuỷ chung. Đó chính là văn hoá, có văn hoá, chúng ta có đất nước.

Soạn bài Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

b. Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quan Dũng.

Các bạn nên tập trung vào mấy ý chính sau đây:

– Người lính hiện về trong hồi ức như một biểu tượng xa vời trong thời gian và không gian (Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi… Nhớ về rừng núi… Tây Tiến người đi không hẹn ước, Đường lên thăm thẳm một chia phôi, Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy…) Nhưng vẫn là hoài niệm không dứt, một nỗi thương nhớ mênh mang (Nhớ về, nhớ chơi vơi…).

– Người lính được miêu tả rất thực trong những sinh hoạt cụ thể hàng ngày, trong những bước đi nặng nhọc trên đường hành quân, với những đói rét bệnh tật, với những nét vẽ tiều tuỵ về hình hài song vẫn rất phong phú trong đời sống tâm hồn với những khát vọng rất mãnh liệt của tuổi trẻ (dẫn thơ minh hoạ).

– Tác giả phát hiện ra vẻ đẹp trong đời sống tâm hồn của người lính:

+ Con người nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng với những cảnh sắc độc đáo rất tinh tế (Hồn lau nẻo bến bờ, dáng người trên độc mộc, dòng nước lũ, cánh hoa đong đưa).

+ Con người vẫn cháy bỏng những khát vọng chiến công vẫn ôm ấp những giấc mơ đẹp về tình yêu tuổi trẻ (Mắt trừng rởi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Một dáng kiều thơm hay một vẻ đẹp của con người rừng núi có nhiều hoang sơ, kiều diễm đến sững sờ (kìa em xiêm áo tự bao giờ).

– Người lính hiện lên chân thực, thơ mộng, lãng mạn (đến đa tình đa cảm), đồng thời cũng rất hào hùng, rất tráng sĩ. Với nhiều từ ngữ Hán Việt vốn mang sắc thái cổ điển sang trọng (Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông mã gầm lên khúc độc hành…) tác giả tạo được không khí thiêng liêng làm cho cái chết tiều tuỵ của người lính hình thành một hành vi lịch sử thấu động lòng sông. Âm hưởng bốn câu thơ cuối làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt hòa với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện ra đi cho mùa xuân đất nước :

Nghị luận văn học Câu 4:

a. Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong đoạn trích Đất nước (trong trường ca Mặt Đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm) và bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi.

1. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.

– Giới thiệu vấn đề nghị luận : Hình tượng đất nước trong hai bài thơ

2. Thân bài:

– Làm rõ đối tượng thứ nhất: Hình tượng đất nước trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi

– Làm rõ đối tượng thứ hai: Hình tượng đất nước trong Bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

– So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật

Những đặc điểm giống nhau về hình tượng đất nước của 2 bài thơ:

Nguyễn Đình Thi khởi đầu bài thơ bằng những xúc cảm trước vẻ đẹp mùa thu. Đây là một quyết định khéo léo bởi vì trước kia mùa thu bao giờ cũng là thu thảm thu sầu còn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 trở đi thì mùa thu vui – mùa thu cách mạng, mùa thu khai sinh ra đất nước.

Khởi đầu bằng những cảm xúc trước vẻ đẹp mùa thu giúp cho Nguyễn Đình Thi có được những suy tư về đất nước một cách tự nhiên và thoải mái hơn.

Nguyễn Khoa Điềm khắc họa hình tượng đất nước mình bằng cách đặt hình tượng này trong mối liên hệ với thời gian và không gian cụ thể còn về sau là thời gian không gian trừu tượng.

Đất nước được nhìn qua chiều dài của thời gian và mặt khác đất nước được xác định bởi những không gian có thể là những không gian nhỏ, không gian cụ thể và cũng có thể là những không gian mênh mông không gian trừu tượng trong lòng người.

Hình tượng đất nước sẽ rất hoàn thiện khi nó được đặt trong 2 mối liên hệ này.

Soạn bài Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

Về phương diện nghệ thuật:

Vềhình tượng đất nước trong 2 bài thơ của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm có khá nhiều nét tương đồng. Vì đây là hình tượng đất nước được khắc họa trong thơ ca mà hình tượng thơ lại là hình tượng cảm xúc, cho nên cả 2 tác giả đều viết về đất nước bằng niềm tự hào sâu sắc, bằng những nhận thức thấm thía về lịch sử về truyền thống dân tộc.

  •    Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã khắc họa hình tượng đất nước của mình với 2 đặc điểm rất lớn, vừa trái ngược nhau lại vừa rất hài hòa với nhau. Đấy là một đất nước vất vả đau thương với những cảnh đồng quê chảy máu dây thép gai đâm nát trời chiều, với cái cảnh “bát cơm chan đầy …. còn giằng khỏi miệng ta“. Tuy nhiên đất nước chúng ta còn là một đất nước anh hùng quật khởi và một cái đất nước quật cường đã khiến cho kẻ thù bất lực.
  •    Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn miêu tả những hình ảnh dân tộc bằng cách nối liền hiện tại với quá khứ và tương lai. Từ điểm nhìn hiện tại, Nguyễn Đình Thi lắng nghe những tiếng rì rầm trong lòng đất của quá khứ vọng về. Đấy là tiếng nói hình ảnh của đất nước chưa bao giờ khuất. Đồng thời cảm hứng thơ còn đưa Nguyễn Đình Thi hướng tới tương lai. Ông như nhìn trước một nước Việt Nam từ trong máu lửa rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Còn ở trong bài thơ đất nước của mình, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại bộc lộ niềm tin sâu sắc của ông về những hình ảnh văn hóa lâu đời.

Để viết nên bài thơ đất nước của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng với một mật độ rất cao các chất liệu văn hóa dân gian. Dựa trên rất nhiều câu ca dao tục ngữ, để viết nên những câu thơ của mình.

Ông còn đưa vào bài thơ rất nhiều truyền thuyết, những sinh hoạt phong tục tập quán đậm đà bản sắc dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm còn ý thức một cách rất sâu sắc về những đóng góp lớn lao của nhân dân cho đất nước.

Đó là những đóng góp từ nhỏ nhặt cho đến lớn lao, những đóng góp được ghi lại trong sử sách và cả những đóng góp âm thầm lặng lẽ không ai biết. Đó còn là những đóng góp kiên nhẫn, bền bỉ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Những điểm khác nhau của hình tượng đất nước ở 2 tác phẩm

Đây là 2 bài thơ được ra đời ở 2 thời điểm rất khác nhau và chính điều đó đã khiến cho hình tượng đất nước ở 2 bài thơ này có nhiều chỗ khác biệt.

  •    Nguyễn Đình Thi thì khắc họa hình tượng đất nước với 2 đặc điểm và đặt hình tượng đất nước trong mối quan hệ với quá khứ và tương lai.
  •    Trong khi ấy Nguyễn Khoa Điềm lại viết bài thơ này theo một định hướng tư tưởng nhằm chứng minh: “đất nước này là đất nước của người dân“, mà tư tưởng cơ bản này đã chi phối toàn bộ bài thơ và nó qui định bút pháp, nó buộc Nguyễn Khoa Điềm phải chọn cái giải pháp đi từ cụ thể đến khái quát.

Điều này là rất dễ giải thích bởi vì bản thân tư tưởng đất nước của người dân vốn đã là trừu tượng. Để cho sáng tỏ nó chỉ có một cách là đi từ rất nhiều những hình ảnh cụ thể, những đóng góp của người dân cho đất nước, những chất liệu văn hóa dân gian… để rồi từ rất nhiều hình ảnh cụ thể ấy tư tưởng đất nước của người dân mới được làm sáng tỏ.

Lí giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học …

– Do sự khác biệt về phong cách: Thơ Nguyễn Đình Thi thường giàu nhạc tính có chất hội họa và điều đặc sắc nhất là có cả những suy tư sâu sắc của một tư duy triết học.

Còn thơ Nguyễn Khoa Điềm thường viết về cuộc đấu tranh cách mạng. Ông hay đề cao phẩm chất của những bà mẹ anh hùng, những chiến sĩ giải phóng kiên cường… Đặc biệt ông có những cảm nhận rất phong phú và sâu sắc về đất nước trong những năm chống Mĩ.

– Về phương diện bố cục: Chúng ta rất dễ dàng nhận thấy ở 2 bài thơ đất nước đều chia làm 2 phần nhưng sự liên kết 2 phần ở mỗi bài lại rất khác nhau.

Bài đất nước của Nguyễn Đình Thi được bắt đầu bằng những xúc cảm trước vẻ đẹp của mùa thu, mùa thu Hà Nội trong hồi tưởng và mùa thu Việt Bắc trong hiện tại. Để rồi sau đó mới chuyển sang quá khứ 2 thời điểm để diễn tả những suy tư cả tác giả đối với đất nước.

Trong khi ấy thì bố cục 2 phần của bài thơ đất nước của Nguyễn Khoa Điềm lại theo một cách hoàn toàn khác. Phần 1 dành cho việc khắc họa hình tượng đất nước trong mối liên hệ với thời gian. Để rồi toàn bộ phần 2 nhằm chứng minh cho tư tưởng với đất nước của người dân.

3. Kết bài:

– Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.

– Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.

 

b. Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:

Soạn bài Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

1. Mở bài:

Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

– Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên.

– Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.

2. Thân bài:

a. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến:

Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc.

– Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này. Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ:

– Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát những gương mặt chung của cả đoàn quân. Qua ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác thường. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút lãng mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ …

– Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm).

Như vậy, trong bốn câu thơ trên, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.

b. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến:

– Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết, sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng:

– Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến.

Cái sự thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã:

Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.

– Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.

3. Kết bài:

Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở lại.

– Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng hình ảnh những người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.

 

Trên đây là những đề nghị luận văn học cơ bản và hướng dẫn giải đề chi tiết. Bạn hãy đọc thật kỹ để nắm được những ý chính trong các tác phẩm trên. Từ đó có cách phân tích và nghị luận hợp lý.