Soạn bài: Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Soạn bài: Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là một trong những dạng bài bạn cần chú ý trong chùm nghị luận xã hội. Mỗi ngày diễn ra vô vàn sự kiện, hiện tượng. Từ những điều này đều có thể triển khai làm văn nghị luận. Tuy nhiên bạn cần nắm được cấu trúc cơ bản là có thể viết tốt dạng này.

1. Tìm hiểu đề và lập dàn ý

a, Tìm hiểu đề

– Vấn đề nghị luận: hiện tượng đời sống: việc sử dụng chiếc bánh thời gian

+ Sử dụng dẫn chứng từ đời sống, các tấm gương tiêu biểu

+ Thao tác lập luận: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận

b, Lập dàn ý

MB: Giới thiệu hiện tượng cần lập luận

TB:

+ Tóm tắt việc làm của Nguyễn Hữu Ân: dành thời gian cho những người bị ung thư giai đoạn cuối

+ Phân tích hiện tượng Nguyễn Hữu Ân: thể hiện đức tính tốt đẹp, lối sống tốt đẹp, có ích

+ Hiện tượng có ý nghĩa giáo dục rất lớn với thanh thiếu niên

+ Biểu dương việc làm của Nguyễn Hữu Ân, khẳng định xã hội có nhiều bạn trẻ cũng đã và đang có suy nghĩ đẹp, lối sống đẹp cho xã hội

+ Nêu lên một bộ phận thanh niên sống tiêu cực: vô cảm, lãng phí thời gian vào trò vô bổ

KB: Rút ra bài học cho bản thân từ hiện tượng bàn luận

2. Cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống

– Nêu rõ hiện tượng, phân tích mặt đúng sai, lợi hại, chỉ rõ thái độ, nguyên nhân

– Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội

– Diễn đạt mạch lạc, sử dụng một số phép tu từ và yếu tố biểu cảm

Nghị luận về một hiện tượng đời sống Bài 1 (trang 68 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Nội dung: vấn đề bản luận: hiện tượng thanh niên (những năm 20 của thế kỉ XX) sống không có lý tưởng, mục đích, thiếu nghị lực, chí tiến thủ, chỉ biết vui chơi, hưởng thụ

b, Tác giả sử dụng các thao tác lập luận: so sánh, phân tích, bình luận

c, Cách viết của Nguyễn Ái Quốc rõ ràng, trong sáng, lập luận chặt chẽ, giọng văn tâm huyết, đầy thuyết phục

d, Bài học: cần chủ động, tích cực, sống trách nhiệm và tự trọng

Nghị luận về một hiện tượng đời sống bài 2 (trang 68 sgk ngữ văn 12 tập 1)

MB: Nêu hiện tượng, trích dẫn đề, nhận định chung về hiện tượng “nghiện in-ter-net và ka-ra-o-ke

TB

– Ka-ra-o-ke là hình thức giải trí, giảm căng thẳng, giúp mọi người gần nhau hơn

– In-ter-net ngoài giải trí còn cung cấp các kiến thức bổ ích, giúp tiếp cận thông tin nhanh, đa dạng, tiện lợi

– “Nghiện” ka-ra-o-ke và Internet là dành quá nhiều thời gian, chểnh mảng học hành tu dưỡng

* Nguyên nhân:

– Do lười biếng, ham mê hưởng thụ, không hình thành được lý tưởng, mục đích sống

– Chưa được giáo dục tốt

* Hậu quả

– Phê phán thói xấu: tiêu phí thời gian, tiền bạc, lười học, nhiễm thói xấu, trí tuệ

* Khắc phục

– Tập trung vào việc học tập, rèn luyện đạo đức

– Hình thành lối sống tích cực

KB: Rút ra bài học từ hiện tượng nghị luận

 

Những bài nghị luận về một hiện tượng đời sống trên đây bạn có thể áp dụng để có thể có kết quả tốt nhất trong kỳ thi. Với chùm nghị luận xã hội bạn chỉ cần nắm được các yêu cầu cơ bản là có thể hoàn thành. Bởi tính ứng dụng thực tiễn của nó rất cao, cũng rất sát với thực tế.

Soạn bài: Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội

Soạn bài: Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội

Nghị luận xã hội không quá khó. Quan trọng bạn đọc nhiều, có vốn kiến thức xã hội căn bản và nắm được các yêu cầu thì mọi đề nghị luận xã hội bạn đều có thể hoàn thành tốt.

Một số đề nghị luận xã hội để bạn tham khảo:

Đề Nghị luận xã hội 1:

Tình thương là hạnh phúc của con người.

1. Mở bài: Trong cuộc sống nếu không có tình thương thì cuộc sống chỉ là 1 mầu xám ngắt. Tình thương sẽ làm cho cuộc sống tràn ngập tiếng cười, niềm vui và hạnh phúc. Có thể nói “tình thương là hạnh phúc của con người“.

2. Thân bài

a.Giải thích vấn đề

– Tình thương là tình cảm gắn bó giữa người với người, giữa con người với quê hương, đất nước … Tình thương là cơ sở tạo nên vẻ đẹp của xã hội.

– Hạnh phúc là sự sung sướng, toại nguyện. Hạnh phúc chỉ được tìm thấy trong tình yêu thương và khi ta biết yêu thương.

b. Những biểu hiện của tình yêu thương

– Yêu quê hương, đất nước của mình.

– Thương người “như thể thương thân“.

– Tình thương gia đình.

c. Yêu thương là hành động, hành động vì tình thương mới thực sự hạnh phúc.

– Phải biết đấu tranh để bảo vệ đất nước, quê hương.

– Phải biết chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ mọi người.

– Phải biết đỡ đần, gánh vác công việc gia đình giúp cha mẹ.

d. Bình luận

Có thể lấy câu nói của Kim Woo Choong – nhà tỉ phú người Hàn Quốc thay cho lời bình luận: “Khi bạn sống vì mọi người thì thế giới sẽ trở nên tươi sáng, ấm áp và hạnh phúc hơn. Cuộc đời khi đó sẽ trở nên đáng sống và tươi đẹp. Bất cứ thanh niên nào dửng dưng với người khác và chỉ nghĩ đến sự thoải mái, sung sướng cho riêng mình đều rất đáng khinh. Người như thế không chỉ không biết đến những lợi lộc họ nhận được từ xã hội mà rõ ràng họ cũng chẳng biết hạnh phúc là gì“.

3. Kết bài: Bài học rút ra cho bản thân từ vấn đề nghị luận

Trước hết phải khẳng định tình yêu thương là 1 sức mạnh vĩ đại, nó sẽ luôn là niềm hạnh phúc quí giá cho mỗi con người. Bạn hãy cho đi 1 tình thương, bạn sẽ nhận lại 1 tấm lòng, đó chính là hạnh phúc. Cuộc sống sẽ trở nên đẹp biết bao khi con người sống với nhau bằng tấm lòng.

Đề Nghị luận xã hội 2:

Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động“. Ý kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân.

1. Mở bài: Nêu vấn đề nghị luận: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết.

2. Thân bài:

– Giải thích vấn đề nghị luận:

+ Thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người là thái độ như thế nào? (Không quan tâm, không để ý, vô cảm trước những gì xảy ra quanh mình, kể cả việc đúng hay sai, …)

+ Lòng vị tha và tình đoàn kết là gì? (quan tâm, bao dung, gắn bó giữa con người với nhau).

– Suy nghĩ của người viết về vấn đề trên.

+ Khẳng định đây là lời khuyên rất đúng gắn về tư cách ứng xử đối với hành vi thái độ của người xung quanh (khen, chê, ca ngợi, phê phán).

+ Trước một tấm lòng vị tha, trước tình yêu thương đoàn kết nhau, ta ca ngợi biểu dương là rất cần thiết. Lúc đó ta đang góp phần khích lệ cái tốt.

+ Nhưng không chỉ biết ca ngợi cái tốt, tình cảm đẹp mà không chú ý phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người. Biết phê phán một thái độ xấu cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi một lòng tốt vậy. (Bằng dẫn chứng từ đời sống, văn học hãy chứng minh cho lí lẽ đó).

+ Trong cuộc sống của chúng ta hiện nay, vấn đề đó cần thiết không.

3. Kết bài: Bài học rút ra cho bản thân từ vấn đề nghị luận

Đề Nghị luận xã hội 3:

Hãy phát biểu ý kiến của anh (chị) về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình“.

Gợi ý các ý chính:

1. Học để biết: Đó là học để tìm hiểu tri thức, khám phá và giải thích các hiện tượng tự nhiên như lí, hóa…

2. Học để làm: Đó là học để có thể lao động, học lấy một cái nghề để tạo ra của cải vật chất cho xã hội…

3. Học để chung sống: Đó là học giao tiếp ứng xử. Học những điều hay lẽ phải, học những việc làm đúng, chuẩn mực để có thể là một công dân gương mẫu, “sống, học tập, lao động theo hiến pháp và pháp luật“.

4. Học để tự khẳng định mình: Học để chứng minh rằng mình là người có thể thay đổi thế giới, thay đổi được tương lai của bản thân mình.

5. Sự liên hệ của 4 yếu tố trên, đó như là một nấc thang cho sự học. Trước hết là để biết, sau mới để làm, tiếp nữa là để chung sống, và yếu tố cá nhân (khẳng định mình) đặt ở vị trí cuối cùng …

Chúng ta có thể liên hệ với câu tục ngữ “Học ăn, học nói, học gói, học mở“…

Các bài văn mẫu lớp 12: Viết bài làm văn số 1

 

Trên đây là một số đề  Nghị luận xã hội mà bạn nên tham khảo nếu muốn viết văn nghị luận tốt.  Những hướng dẫn này sẽ hỗ trợ đắc lực cho bạn để làm bài. Tuy nhiên quan trọng nhất, bạn vẫn phải nắm vững phương pháp và bố cục của bài làm.

Soạn bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Soạn bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một tư tưởng đạo lý là một vấn đề quan trọng và là một dạng nghị luận xã hội phổ biến và thường xuất hiện trong đề thi. Với dạng bài này bạn cần sử dụng các thao tác lập luận để trình bày vấn đề một cách tốt nhất.

Ghi nhớ SGK Ngữ văn 12 trang 21.

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Bài 1 (trang 21 sgk ngữ văn 12 tập 1)

a, Vấn đề mà tổng thống Ấn Độ Nê-ru nêu ra là văn hóa và những biểu hiện ở con người.

Có thể đặt tên: Con người văn hóa

b, Thao tác lập luận:

+ Giải thích+ chứng minh

+ Phân tích + bình luận

+ Cách diễn đạt rõ ràng, giàu hình tượng

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Bài 2 (trang 22 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Tìm hiểu đề: Nêu suy nghĩ về vai trò lý tưởng đối với mọi người, lý tưởng cá nhân mình

+ Lý tưởng là ngọn đèn soi đường, không có nó thì không có cuộc sống

+ Nâng vai trò của lí tưởng lên tầm cao ý nghĩa của cuộc sống

+ Giải thích quan hệ lí tưởng và ngọn đèn

Phương pháp nghị luận: Phân tích, giải thích, bình luận, chứng minh

– Phạm vi tư liệu: Cuộc sống

Lập dàn ý

MB: Giới thiệu, dẫn dắt tư tưởng, đạo lý cần nghị luận

TB: Giải thích bàn luận về ý nghĩa câu nói Lep Tôn-x tôi

+ Lí tưởng là đích con người hướng tới

+ Cuộc sống ở trong câu nói chỉ giá trị sống trên cõi đời của mỗi người

+ Lý tưởng là ngọn đèn chủ đường”: lí tưởng thì hành động của con người không có phương hướng, lạc đường

+ Suy nghĩ về vai trò lý tưởng đối với cuộc sống của con người

+ Lý tưởng sống tầm thường, nhỏ bé, ích kỉ, có thể làm lại cuộc đời của một người và nhiều người

+ Lý tưởng sóng đẹp đẽ, tạo ra sự sáng tạo, niềm vui cuộc sống

– Bình luận câu nói của Lép Tôn-x tôi:

+ Con người sống phải biết lựa chọn lí tưởng và có hướng phấn đấu

+ Mỗi học sinh cần xác định rõ ràng mục tiêu, lý tưởng

KB: Khái quát lại vấn đề. Nêu bài học nhận thức cho bản thân

 

Trên đây là một số đề cơ bản trong nghị luận về một tư tưởng, đạo lí mà bạn nên tham khảo. Với dạng bài này đa phần cách làm đều giống nhau. Chỉ cần bạn sử dụng các phương pháp nghị luận thành thục và ghi nhớ các yêu cầu đối với văn nghị luận chắc chắn sẽ có kết quả tốt.

Soạn bài: Viết bài làm văn số 2: Nghị luận xã hội

Soạn bài: Viết bài làm văn số 2: Nghị luận xã hội

Một số đề nghị luận xã hội dưới đây sẽ giúp bạn thực hành tốt hơn. Nghị luận xã hội có rất nhiều dạng bài nhưng chung quy chỉ cần bạn nắm được các yêu cầu cơ bản thì bạn có thể làm tốt mọi dạng đề.

ĐềNghị luận xã hội 1:

Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.

Nêu vấn đề: Nêu sự cấp bách và tầm quan trọng hàng đầu của việc phải giải quyết vấn đề giảm thiểu tai nạn giao thông đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay.

– Giao thông là hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội.

– Tai nạn giao thông là tai nạn do các phương tiện tham gia giao thông gây nên: đường bộ, đường thủy, đường sắt… trong đó phần lớn các vụ tai nạn đường bộ.

a. Nguyên nhân dẫn đến Tai nạn giao thông:

– Khách quan: Cơ sở vật chất, hạ tầng còn yếu kém; phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh; do thiên tai gây nên…

– Chủ quan:

+ Ý thức tham gia giao thông ở một số bộ phận người dân còn hạn chế, đặc biệt là giới trẻ, trong đó không ít đối tượng là học sinh.

+ Xử lí chưa nghiêm minh, chưa thỏa đáng. Ngoài ra còn xảy ra hiện tượng tiêu cực trong xử lí.

b. Hậu quả: gây tử vong, tàn phế, chấn thương sọ não…

Theo số liệu thống kê của WHO ( Tổ chức y tế thế giới): Trung bình mỗi năm, thế giới có trên 10 triệu người chết vì tai nạn giao thông. Năm 2006, riêng Trung Quốc có tới 89.455 người chết vì các vụ tai nạn giao thông. Ở Việt Nam con số này là 12,300. Năm 2007, WHO đặt Việt Nam vào Quốc gia có tỉ lệ các vụ tử vong vì tai nạn giao thông cao nhất thế giới với 33 trường hợp tử vong mỗi ngày.

Tai nạn giao thông đang là một quốc nạn, tác động xấu tới nhiều mặt trong cuộc sống:

Do đó, giảm thiểu tai nạn giao thông là là yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa lớn đối với toàn xã hội.

c. Thanh niên, học sinh cần có hành động góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông

– Tuyên truyền cho mọi người biết tác hại và hậu quả nghiêm trọng của tai nạn giao thông.

– Tự giác nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ an toàn giao thông khi tham gia giao thông.

– Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật giao thông. Cùng giương cao khẩu hiệu “Nói không với phóng nhanh vượt ẩu“, “An toàn là bạn, tai nạn là thù“…

– Thành lập các đội thanh niên tình nguyện xuống đường làm nhiệm vụ.

– Phát hiện và báo cáo kịp thời với các cơ quan đoàn thể nơi gần nhất những trường hợp vi phạm an toàn giao thông.

ĐềNghị luận xã hội 2:

Hiện nay, nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp. Anh chị hãy bài tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.

Đặt vấn đề:

Chăm sóc và bảo vệ trẻ em lang thang cỡ nhỡ là trách nhiệm của toàn xã hội.

Giải quyết vấn đề:

* Thực trạng trẻ em lang thang cơ nhỡ:

– Theo số liệu của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, năm 2003 cả nước có trên 21.000 trẻ em lang thang cơ nhỡ, đông nhất là ở TP.HCM với 8.500 em. Năm 2008, mặc dù đã được các cá nhân, tổ chức thu nhận về những mái ấm tình thương để nuôi dạy nhưng hiện vẫn còn trên 10.000 trẻ em không nơi nương tựa. Con số này không ngừng gia tăng.

– Trẻ em đường phố đối diện với nguy cơ thất học cao và rơi vào tệ nạn xã hội.

– Trẻ em đường phố đang có nguy cơ phạm tội ngày càng tăng; nạn xin ăn tràn lan ảnh hưởng tới văn minh đô thị.

– Trẻ em đang bị bóc lột sức lao động và nguy cơ bị xâm hại tình dục rất cao.

* Nguyên nhân

– Do đói nghèo: Trẻ đường phố thường xuất thân từ các gia đình nông dân nghèo hoặc gia đình mà bố mẹ không có việc làm, khó khăn về kinh tế và đông con (77% trẻ bỏ nhà ra đi vì gia đình nghèo khổ).

– Do tổn thương tình cảm như: bị gia đình ruồng bỏ, từ chối hoặc đánh đập (23%).

– Còn lại là do mồ côi hoặc các trường hợp bố mẹ li hôn.

* Hiện nay, những “mái ấm tình thương” đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta, nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.

* Ý nghĩa:

Chăm sóc và bảo vệ trẻ em lang thang cơ nhỡ là trách nhiệm không chỉ của cá nhân mà còn là của toàn xã hội. Điều này không chỉ có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa kinh tế mà quan trọng hơn là giúp cho các em hướng thiện, đưa các em đi đúng với quỹ đạo phát triển tích cực của xã hội. Đây là tình cảm tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách… biểu hiện của truyền thống nhân đạo ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam.

* Các tổ chức cá nhân tiêu biểu:

Tổ chức: Làng trẻ em SOS; Làng trẻ em Hòa Bình ( Từ Dũ); Cô nhi viện Thánh An ( Giáo phận Bùi Chu, Xuân Trường, Nam Định); Chùa Kì Quang II ( Gò Vấp); Chùa Bồ Đề (Huế)…

Cá nhân: Mẹ Phạm Ngọc Oanh ( Hà Nội) với 800 đứa con tình thương; Anh Phạm Việt Tuấn với mái ấm KOTO ( Hà Nội); Thầy Koyama với mái ấm tình thương 37, Nguyễn Trãi, Huế…

* Quan điểm và biện pháp nhân rộng

Quan điểm: Có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng trẻ em lang thang cơ nhỡ từ đó nâng cao tình cảm và trách nhiệm đối với hiện tượng ấy. Lên án và kịp thời phát hiện, tố cáo những kẻ bóc lột sức lao động và xâm hại trẻ em.

ĐềNghị luận xã hội 3:

Hãy trình bày quan điểm của mình trước cuộc vận động “nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.

1.Tìm hiểu đề

2. Lập dàn ý

a. Mở bài: Nêu hiện tượng, trích dẫn đề, phát biểu nhận định chung…

b. Thân bài:

– Phân tích hiện tượng.

+ Hiện tượng tiêu cực trong thi cử trong nhà trường hiện nay là một hiện tượng xấu cần xoá bỏ, nó làm cho học sinh ỷ lại, không tự phát huy năng lực học tập của mình…

+ Hiện tượng lấy tỉ lệ để nâng thành tích của nhà trường.

–> Hãy nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.

– Bình luận về hiện tượng:

+ Đánh giá chung về hiện tượng.

+ Phê phán các biểu hiện sai trái: Thái độ học tập gian lận; Phê phán hành vi cố tình vi phạm, làm mất tính công bằng của các kì thi.

c. Kết bài

– Kêu gọi học sinh có thái độ đúng đắn trong thi cử.

– Phê phán bệnh thành tích trong giáo dục.

 

Với nghị luận xã hội bạn nên đọc nhiều và nắm vững kết cấu cơ bản của bài sẽ có thể làm tốt. Chúc bạn hoàn toàn chinh phục dạng đề này.