Soạn bài: Ôn tập phần văn học Lớp 12 kì 1

Soạn bài: Ôn tập phần văn học Lớp 12 kì 1

Ôn tập phần văn học kỳ 1 là các câu hỏi liên quan đến văn học. Bao gồm các đặc điểm của văn học Việt Nam 45 -75, hay quan điểm sáng tác Hồ Chí Minh…

Ôn tập phần văn học Câu 1 (trang 213 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX:

Ôn tập phần văn học Câu 2 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Ôn tập phần văn học lớp 12

Các đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam ( 1945- 1975):

– Văn học vận động theo khuynh hướng cách mạng hóa

+ Phản ánh cuộc đấu tranh, kháng chiến, cổ vũ tinh thần chiến đấu

+ Tái hiện các chặng đường lịch sử, nhiệm vụ chính trị qua các đề tài: Tổ quốc, xã hội chủ nghĩa…

– Nền văn học hướng tới đại chúng

+ Cảm hứng đất nước của nhân dân

+ Các tác giả quan tâm tới đời sống của người lao động, nỗi khổ của người nghèo.

+ Dung lượng ngắn gọn, chủ đề rõ ràng, ngôn ngữ dễ thuộc, dễ nhớ

– Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

+ Phản ánh các vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn với đất nước

+ Cầm bút, nhìn cuộc đời bằng con mắt có tầm bao quát lịch sử

+ Tiêu biểu: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu- Nguyên Ngọc, Người mẹ cầm súng- Nguyễn Thi, thơ ca Tố Hữu…

– Cảm hứng lãng mạn

+ Trong những năm có chiến tranh, dù nhiều khó khăn, hi sinh nhưng lòng tràn đầy mơ ước

+ Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc

+ Tác động, cảm hứng lãng mạn, nâng đỡ con người Việt Nam vượt lên trên thử thách gian lao

– Kết hợp hài hòa yếu tố sử thi và lãng mạn, vận động và phát triển cách mạng

Ôn tập phần văn học Câu 3 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh:

– Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí chiến đấu phụng sự cho sự nghiệp cách mạng, nhà văn là chiến sĩ

– Chú trọng tính chân thật, tính dân tộc của văn học

+ Miêu tả cho hay, chân thật, hùng hồn, hiện thực phong phú

+ Nhà văn có ý thức đề cao tình thân, cốt cách trong dân tộc

+ Nhà văn tìm tòi sáng tạo

– Cầm bút bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng giao tiếp

+ Xác định rõ mục đích, đối tượng, nội dung, cách thức trước khi viết

– Ý nghĩa: quan điểm sáng tác chi phối đặc điểm sự nghiệp văn học của Bác, tư tưởng sâu sắc, biểu hiện sinh động, đa dạng

Ôn tập phần văn học Câu 4 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

– Mục đích, đối tượng của Tuyên ngôn Độc lập

– Mục đích:

+ Khẳng định chủ quyền nước ta

+ Bác bỏ luận điệu xảo trá, thực dân Pháp rêu rao trên trường quốc tế

+ Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế

– Đối tượng

+ Đồng bào cả nước

+ Nhân dân thế giới, lực lượng thù địch

Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận, chan chứa tình cảm

– Nội dung:

+ Xứng đáng áng thiên cổ hùng văn thứ hai của dân tộc

+ Thể hiện tư tưởng lớn của người đứng đầu đất nước, đề cao quyền con người, dân tộc

+ Tầm nhìn văn hóa của vị lãnh tụ vĩ đại, sự am hiểu tri thức nhân loại

– Nghệ thuật

Tuyên ngôn độc lập, áng văn chính luận bất hủ: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, ngôn ngữ hùng hồn

Ôn tập phần văn học Câu 5 (trang 215 ngữ văn 12 tập 1):

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị bởi:

– Hồn thơ của ông hướng tới cái ta chung, niềm vui lớn của con người, của cách mạng, dân tộc

– Thơ đậm tính sử thi, coi sự kiện chính trị đất nước là chủ yếu

– Cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là cảm hứng dân tộc, lịch sử:

+ Tập trung khắc họa bối cảnh rộng lớn, biến cố mạnh mẽ, tác động tới vận mệnh dân tộc

+ Con người trong thơ Tố Hữu là con người sự nghiệp chung với cố gắng phi thường

+ Nhân vật mạng tính tiêu biểu của dân tộc, cộng đồng

– Giong thơ chân thành, tha thiết

– Khuynh hướng sử thi và lãng mạn trong thơ Tố Hữu

+ Tập trung khắc họa bối cảnh rộng lớn, biến cố quan trọng tác động đến vận mệnh dân tộc

+ Hình tượng trung tâm, sự nghiệp chung, vẻ đẹp dân tộc, cộng đồng

– Cảm hứng lãng mạn:

+ Khẳng định lí tưởng, niềm tin vào tương lai, cách mạng

+ Thơ Tố Hữu chú trọng tác động tình cảm qua nhạc điệu, tâm tình

Ôn tập phần văn học Câu 6 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Ôn tập phần văn học lớp 12

Biểu hiện tính dân tộc trong thơ Việt Bắc (Tố Hữu):

Nội dung:

– Vẻ đẹp đặc trưng tâm hồn, cốt cách dân tộc Việt Nam:

+ Tình cảm tha thiết gắn bó với cội nguồn, quá khứ, gian khổ

+ Tình cảm gắn bó, ngọt bùi, đồng cam cộng khổ

+ Tinh thần đoàn kết đồng lòng chung sức kháng chiến

+ Niềm tự hào dân tộc trước sự trưởng thành Cách mạng

– Tính dân tộc thể hiện qua việc Tố Hữu đề cập tới những phương diện đặc trưng nhất đời sống con người

– Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc đặc trưng, độc đáo, kỉ niệm với những người dân Việt Bắc

Phương diện nghệ thuật

– Thể thơ lục bát, giọng thơ uyển chuyển, giàu nhạc tính, dễ nhớ, dễ thuộc

– Hình thức đối đáp trong ca dao trữ tình

– Cách xưng hô ta- mình mộc mạc, dân dã, thấm tính quân dân

– Ngôn ngữ thuần Việt, giản dị, hình ảnh gần gũi, nhiều sức gợi

– Tình yêu thiên nhiên, con người Việt Bắc sâu nặng, nghĩa tình

Ôn tập phần văn học Câu 7 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

a, – Bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng):

Những luận điểm bài viết:

Mở đầu: Luận điểm trung tâm của bài – Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của dân tộc, tìm hiểu và đề cao hơn nữa

Trình bày nét đặc sắc cuộc đời, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

+ LĐ 1: Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước

– LĐ 2: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu

– LĐ 3: Giá trị nghệ thuật tác phẩm Lục Vân Tiên

– Phần kết bài: Tác giả khẳng định cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng

– Luận điểm phù hợp với nội dung bài viết, cách sắp xếp luận điểm khác với cách xếp thông thường khi tác giả nói tới con người, tấm lòng của Nguyễn Đình Chiểu, rồi mới trình bày nét đặc sắc trong thơ văn của ông

b, – Mấy ý nghĩa về thơ (Nguyễn Đình Thi):

Các luận điểm được triển khai:

– Thơ là tiếng nói tâm hồn của con người

– Hình ảnh, tư tưởng, tính chân thực trong thơ

– Ngôn ngữ thơ khác loại hình ngôn ngữ của kịch, truyện, kí

c, Trong bài Đô-xtôi-ép-xki

Luận điểm

Nỗi khổ vật chất, tinh thần, sự vươn lên của nhà văn

– Vinh quang, cay đắng trong cuộc đời Đô-tôi-xep-xki

– Cái chết của ông và sự yêu mến, khâm phục của nhân dân dành cho Đô-tôi-ep-ski

Ôn tập phần văn học Câu 8 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Vẻ đẹp, hình tượng người lính trong bài Tây Tiến của Quang Dũng

– Vẻ đẹp hào hùng nhưng rất đỗi hào hoa của lính Tây Tiến

– Khí phách ngang tàng, tinh thần lạc quan trước khó khăn

– Hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, bệnh sốt rét, hành quân trên địa hình hiểm trở

– Những người lính vẫn kiên cường, vượt qua khó khăn, bệnh tật

– Tinh thần lạc quan, yêu đời

Chất bi tráng: cái chết trong bài Tây Tiến không mang cảm giác bi lụy, tang tóc

– Nghệ thuật

+ Cảm hứng lãng mạn giữa hiện thực chiến tranh tàn khốc

+ Sử dụng thủ pháp đối lập gây ấn tượng, mạnh mẽ về thiên nhiên, con người miền Tây, lính Tây Tiến

– So sánh bài Đồng Chí

+ Hiện thực chiến tranh được tái hiện chân thực

+ Chính Hữu tô đậm cái đời thường, có thật trong cuộc sống: hình ảnh đời sống của người dân, sức mạnh tinh thần đồng đội sát cánh bên nhau

Ôn tập phần văn học Câu 9 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Những khám phá riêng của hai nhà thơ Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm

– Nội dung:

+ Nguyễn Đình Thi khắc họa hình tượng đất nước: đặt trong mối quan hệ với quá khứ, tương lai

+ Nguyễn Khoa Điềm đưa ra quan niệm mới về đất nước: đất nước của nhân dân

Nghệ thuật:

+ Đất nước (Nguyễn Đình Thi) hiện đại, có cảm hứng sử thi với giọng trầm hùng, sau lắng, hình ảnh đẹp…

+ Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm): đậm màu dân gian với nhiều góc cạnh văn hóa: lịch sử, địa lý, phong tục, mang tính triết lý, suy tư

Ôn tập phần văn học Câu 10 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Hình tượng sóng- người phụ nữ đang yêu, hình tượng trung tâm, nổi bật của bài thơ:

+ Mượn sóng để diễn tả nỗi lòng, tình yêu, trái tim phức tạp, tha thiết

+ Sóng có phẩm chất, tính cách giống “em”

– Sóng, những suy nghĩ, trăn trở khi nghĩ về tình yêu

+ Tìm cội nguồn của sóng, và khát vọng muốn được hiểu mình, hiểu người mình yêu và tình yêu

+ Trái tim của tuổi trẻ khát khao yêu thương, quy luật tự nhiên

– Nỗi nhớ, sự chung thủy của người phụ nữ khi yêu

+ Bày tỏ trực tiếp nỗi nhớ thương người yêu

+ Sự tin tưởng, đợi chờ chung thủy trong tình yêu

– Khát vọng tình yêu vĩnh cửu

+ Sự lo âu, trăn trở của người phụ nữ trước cuộc đời dài rộng và tình yêu lớn lao

+ Sóng là biểu tượng cho tình yêu trường tồn, mãnh liệt

Ôn tập phần văn học Câu 11 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Ôn tập phần văn học Câu 12 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Ôn tập phần văn học

Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân:

– Điểm thống nhất: khám phá, phát hiện vẻ đẹp ở sự độc đáo và tài hoa

+ Chữ người tử tù nhìn nhận con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ

+ Người lái đò sông Đà được nhìn trên phương diện chiến sĩ trên mặt trận sông Đà

Nét riêng:

– Trước cách mạng

+ Đề tài: mang tâm sự người đi tìm vẻ đẹp xưa cũ chỉ còn vang bóng

+ Nhân vật: thường là các tài tử, nhà nho, người có khí phách

+ Giọng điệu: bất bình trước xã hội mục ruỗng

– Sau cách mạng:

+ Đề tài: cuộc sống, chiến đấu của nhân dân, hiện thực của đất nước

+ Nhân vật là những con người đời thường, người lao động

+ giọng điệu: thủ thỉ, tâm tình

Ôn tập phần văn học Câu 13 (trang 215 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Cảm hứng thẩm mĩ trong văn phong của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông:

+ Vẻ đẹp của sông Hương phong phú, đa dạng và có sự biến chuyển như tâm trạng con người

+ Ngòi bút đặc sắc đầy cảm hứng, tài hoa của tác giả trong thể loại bút kí

– So sánh liên tưởng độc đáo cùng với hiểu biết sâu rộng về lịch sử văn hóa, nghệ thuật

– Ngôn ngữ giàu chất tạo hình, sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, so sánh

 

Thực hành hết bộ đề Ôn tập phần văn học chắc chắn bạn sẽ nắm vũng kiến thức ngữ văn trong chương trình lớp 12 kỳ 1. Nhất là vào thời điểm cuối kỳ, nó sẽ hữu ích cho bạn trong việc ôn tập.

Soạn bài: Kiểm tra tổng hợp học kì 1

Soạn bài: Kiểm tra tổng hợp học kì 1

Những đề kiểm tra tổng hợp dưới đây bao gồm các tác phẩm chính đã được học tron g chương trình lớp 12. Mỗi tác phẩm sẽ có một dạng đề tương ứng để bạn thực hành. Hãy cùng tham khảo và làm bộ đề này nhé!

Phần trắc nghiệm (3 điểm)

Phần tự luận (7 điểm – chọn 1 trong 2 đề)

Kiểm tra tổng hợp Câu 1 (trang 221 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Hoàn cảnh ra đời Tuyên ngôn độc lập:

– Ngày 19/8/1945 chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân

26/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, người soạn thảo Tuyên ngôn độc lập tại số 48 phố Hàng Ngang

2/9 Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Kiểm tra tổng hợp Câu 2 (trang 221 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Nghệ thuật lập luận Tuyên ngôn độc lập

– Cơ sở pháp lí: quyền bình đẳng, quyền hạnh phúc, tự do của con người, dân tộc

Luận cứ:

– Trích dẫn tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (Người ta sinh ra tự do, bình đẳng về quyền lợi… luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi)

– Khẳng định niềm tự hào khi đặt ba bản tuyên ngôn cạnh nhau

– Người suy luận trực tiếp “suy rộng ra” để khẳng định quyền độc lập, tự do của nước ta

– Cơ sở thực tiễn: bản án chung thẩm kết tội chủ nghĩa thực dân Pháp, khẳng định vài trò chính trị của nhân dân Việt Nam và mặt trận Việt Minh

Luận cứ:

– Đập tan luận điệu “khai hóa”, “bảo hộ” của thực dân Pháp

– Người chỉ ra các phương diện về chính trị, kinh tế xóa tan luận điệu khai hóa Việt Nam

+ “khai hóa tự do” >< “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”

+ khai hóa bình đẳng >< lập ra ba hế độ khác nhau ở Bắc, Trung, Nam ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, ngăn cản dân ta đoàn kết

+ khai hóa bác ái >< thi hành luật pháp dã man

– Bác bỏ luận điệu bảo hộ:

+ 1940 Pháp quỳ gối hàng, mở cửa nước ta rước Nhật

+ Trong 5 năm Pháp bán nước ta hai lần cho Nhật

+ Chúng thẳng tay khủng bố Việt Minh

– Tuyên bố độc lập: khẳng định nền độc lập tự do, quyết tâm bảo vệ đất nước

Luận cứ:

– Khẳng định nước Việt Nam có quyền, sự thật đã trở thành một nước độc lập

– Toàn thể dân tộc quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạn, của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy

Kiểm tra tổng hợp Câu 1 (trang 221 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Kiểm tra tổng hợp

Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến:

– Tây Tiến là đơn vị quân đội được thành lập 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào, địa bàn hoạt động hiểm trở, rộng, khắc nghiệt, đa phần thanh niên Hà thành nhập ngũ

– Quang Dũng là đại đội trường của đơn vị đầu 1947 cuối 1948 chuyển sang đơn vị khác. Một ngày ở Phù Lưu Chanh nhớ về đồng đội cũ, Quang Dũng sáng tác bài thơ này.

Kiểm tra tổng hợp Câu 2 (trang 221 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Dàn ý bài đồng cảm và chia sẻ trong xã hội ngày nay

Mở bài:

– Giới thiệu về vấn đề “đồng cảm và chia sẻ” trong xã hội

– Trình bày khái quát suy nghĩ bản thân

Thân bài:

– Giải thích chia sẻ, đồng cảm

+ Đồng cảm là sự thấu hiểu, cảm thông trước một việc, một người trong cuộc sống

+ Sẻ chia: quan tâm, san sẻ vật chất, tinh thần giữa người với người

Ý nghĩa:

+ Học được dồng cảm, sẻ chia là khi sống vì người khác, cũng chính là lúc nhận được niềm vui

Biểu hiện:

– Đồng cảm, sẻ chia được thực hiền bằng những việc làm cụ thể: vật chất, tinh thần ( nụ cười, ánh mắt, lời động viên, hỏi thăm, hoặc sự lắng nghe)

+ Phạm vi bạn bè: giúp đỡ nhau khi khó khăn. Phạm vi cộng đồng: ủng hộ người có hoàn cảnh khó khăn

– Mở rộng:

+ Ca dao, tục ngữ (lá lành đùm lá rách, thương người như thể thương thân, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ…)

+ Các hội quỹ ủng hộ người nghèo khó, người có hoàn cảnh bất hạnh

– Phê phán những căn bệnh và lối sống vô cảm, ích kỉ, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với những mọi người

– Suy ngẫm riêng của cá nhân

Kết bài:

Khẳng định tình yêu thương, sự đồng cảm và sẻ chia giúp con người thấu hiểu, gần gũi nhau hơn. Trở thành động lực giúp con người thêm sức mạnh, vượt qua khó khăn, thử thách.’

 

Những đề kiểm tra tổng hợp ngữ văn lớp 12 trên đây được tuyển chọn từ ngân hàng đề thi. Hy vọng sẽ là tài liệu bổ ích dành cho bạn để ôn tập và có một kết quả tốt nhất.

Soạn bài: Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học

Soạn bài: Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học

Nghị luận văn học là một dạng bài quan trọng mà mỗi sinh viên cần phải nắm. Nắm rõ quy cách làm bài để có thể hoàn thành tác phẩm đúng và đủ ý nhất. Một số dạng đề nghị luận văn học để bạn tham khảo.

ĐềNghị luận văn học 1:

Trong một bức thư bàn luận về văn chương, Nguyễn văn Siêu có viết: “Văn chương […] có loại đáng thờ, có loại ko đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người“. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên.

Bài làm cần có các nội dung sau:

– Phân tích lí giải hai loại văn chương: “Chỉ chuyên chú ở văn chương” và loại “Chuyên chú ở con người“.

+ Thế nào là văn chương “Chỉ chuyên chú ở văn chương“?

Đó là loại văn chương chỉ biết có nó, tức là coi hình thức nghệ thuật là trên hết, nhà văn khi sáng tác chỉ chăm lo cái đẹp của hình thức, không mấy chú ý đến nội dung tư tưởng và không quan tâm đến đời sống,vân mệnh con người, không có trách nhiệm đối với xã hội.

+ Thế nào là văn chương “chuyên chú ở con người“?

Đó là loại văn chương quan tâm trước hết đến cuộc sống con người vì con người, coi giá trị chủ yếu của văn chương ở chỗ nó có ích cho cuộc đời.

– Nêu ý kiến về quan niệm của Nguyễn Văn siêu:

+ Vì sao loại đáng thờ là loại “Chuyên chú ở con người” chứ không phải loại “Chuyên chú ở văn chương“?

NVS muốn nói đến chân giá trị của văn chương . Nếu văn chương không quan tâm đến con người thì văn chương sẽ tự đánh mất mình. Áng văn hay phải là áng văn tâm huyết của người cầm bút. Cái tâm thường nuôi dưỡng, phát huy cái tài.

– Liên hệ đến các nhà văn có cùng quan điểm như NVS.

ĐềNghị luận văn học 2:

Buy-phông, nhà văn Pháp nổi tiếng, có viết: “Phong cách chính là người.” Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào?

Cần lưu ý những ý chính sau khi nghị luận văn học:

– Phong cách chính là nét độc đáo và phần đóng góp riêng của nhà văn cho đời sống văn học.

– Phong cách bao gồm cả phương diện nội dung và nghệ thuật:

+ Độc đáo về nội dung thể hiện ở quan niệm về cuộc sống và con người từ việc lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, cách lí giải những vấn đề về cuộc sống và con người … .

+ Độc đáo về nghệ thuật thể hiện ở phương thức biểu hiện, ở việc lựa chọn các thủ pháp nghệ thuật, tổ chức kết cấu, sử dụng ngôn ngữ … .

– Điều thú vị khi đọc tác phẩm văn học là phát hiện được những nét độc đáo trong phong cách của mỗi nhà văn.

ĐềNghị luận văn học 3:

Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e: “Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra“.

Cần làm rõ một số ý sau:

– Tiêu chí để đánh giá một tác phẩm hay, theo La Bơ-ruy-e, là giá trị giáo dục của tác phẩm đó.

– Giá trị giáo dục của tác phẩm văn học: “Nâng cao tinh thần“, gợi: “Những tình cảm cao quí và can đảm” của con người.

Một số ĐềNghị luận văn học bài tham khảo và gợi ý làm bài khác

Đề Nghị luận văn học 1:

Nền văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 là “Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn“. Anh (Chị) hãy trình bày ý kiến của mình về nhận định trên.

Cần nêu được một số ý sau khi nghị luận văn học:

– Sử thi và lãng mạn là gì?

– Vì sao văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám lại “Chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn“?

(Dựa vào những nội dung đã trình bày trong bài Khái quát văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX.)

+ Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã thể hiện trong các tác phẩm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám như thế nào? (Cần dẫn ra và phân tích được đặc điểm sử thi và lãng mạn qua nhiều tác phẩm thơ và văn xuôi đã được học ở SGK ngữ vănlớp 9: Làng (Kim Lân), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê) … còn lại chủ yếu là những tác phẩm thơ và văn xuôi trong chương trình 12: Tây Tiến (Quang Dũng), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) … .)

+ Bình luận về tác dụng của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.

ĐềNghị luận văn học 2:

Vì sao có thể nói văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người? Liên hệ thực tế văn học.

Cần nêu được một số ý sau:

– Thế nào là văn học chân chính:

+ Phản ánh cuộc sống của con người.

+ Phải góp phần đấu tranh cải tạo xã hội, đặc biệt là tác động sâu sắc đến tâm hồn tình cảm con người, bồi đắp cho tâm hồn con người trở nên trong sáng phong phú và sâu sắc hơn.

– Vì sao văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người?

+ Văn học chân chính tố cáo xã hội bóc lột đã đẩy con người vào trạng thái phi nhân tính và kêu gọi đấu tranh để thay đổi hoàn cảnh xã hội,làm cho hoàn cảnh trở nên nhân đạo hơn đối với con người. (Dẫn ra và phân tích một số tác phẩm của Nam Cao: Sống mòn, Chí Phèo …)

+ Văn học chân chính đề cập trực tiếp đến những vấn đề nhân sinh quan: Thái độ trước lẽ sống và cái chết, thái độ lựa chọn con đường đi trong cuộc đời, đấu tranh cho một lí tưởng cao đẹp, cho cuộc sống có ý nghĩa (Từ ấy – Tố Hữu, Nhật kí trong tù – Hồ Chí minh.)

+ Những hình tượng mang tính chất gợi cảm, nhất là hình tượng thơ tác động mạnh mẽ vào tình cảm người đọc truyền cho người đọc có một tình yêu mãnh liệt đối với cái đẹp, cái cao cả (Hình tượng Bác Hồ trong bài “Bác ơi!” – Tố Hữu …), đồng thời kích thích ở con người thái độ căm ghét cái xấu, sự tàn ác … (Truyện Kiều – Nguyễn Du …)

+ Văn học chân chính giúp ta nhận thức về xã hội và thế giới tự nhiên nhưng chủ yếu là tự nhận thức, giúp con người tự cải tạo và hoàn thiện đạo đức, nhân cách, làm cho con người sống tốt đẹp hơn .

 

Nghị luận văn học sẽ xuất hiện nhiều trong chương trình thi. Vì vậy bạn hãy nắm thật rõ quy cách làm dạng bài này nhé! Hãy luyện tập thêm dựa trên các mẫu đề trên đây. Bạn sẽ có kết quả tốt trong kỳ thi. 

Soạn bài: Nhân vật giao tiếp

Soạn bài: Nhân vật giao tiếp

Nhân vật giao tiếp là một vấn đề được đề cập nhiều trong văn học lớp 12. Trong các tác phẩm văn học đều xuất hiện các ngữ cảnh  để nhân vật giao tiếp. Qua đó bày tỏ được tính cách, thái độ của nhân vật.

 Nhân vật giao tiếp Câu 1 (trang 18 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Các nhân vật: Tràng, mấy cô gái, “thị”

– Đặc điểm của nhân vật giao tiếp.

+ Lứa tuổi: họ đều là người trẻ, trung tuổi

+ Giới tính: Tràng – nam, còn lại là nữ

+ Tầng lớp xã hội: đều là người dân lao động nghèo khổ

b, Nhân vật giao tiếp chuyển vai người nói, vai người nghe luân phiên nhau

+ Lượt 1: Tràng nói, các cô gái nghe

+ Lượt 2: các cô gái là người nói, Tràng là người nghe

+ Lượt 3: “thị” nói, Tràng và các cô gái còn lại nghe

+ Lượt 4: Tràng nói, “thị” là người nghe

c, Nhân vật giao tiếp bình đẳng về vị trí xã hội

d, Khi bắt đầu cuộc giao tiếp, nhân vật giao tiếp có quan hệ hoàn toàn xa lạ, sau đó họ dần thân với nhau hơn (vì cùng lứa tuổi, vị thế)

e, Đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, giới tính, nghề nghiệp… tác động tới nhân vật giao tiếp. Ban đầu họ đùa để thăm dò, sau đó khi quen, họ mạnh dạn hơn.

Vợ nhặt

 Nhân vật giao tiếp Câu 2 (trang 20 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Các nhân vật giao tiếp đoạn văn: Bá Kiến, mấy bà vợ Bá Kiến, Chí Phèo, Lí Cường, dân làng Vũ Đại

Bá Kiến nói với một người nghe trong trường hợp Chí Phèo, Lí Cường. Khi nói với mấy bà vợ, dân làng, Bá Kiến nói cho nhiều người nghe

b, Vị thế xã hội của Bá Kiến từng người nghe

– Với dân làng- Bá Kiến thuộc tầng lớp trên nên lời nói có trọng lượng, bản chất lời nói là đuổi (về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại thế này!)

– Với Chí Phèo, ông nói vừa như thăm dò, như dỗ dành, có lúc như có vẻ đề cao, coi trọng

– Với Lí Cường, Bá Kiến tỏ ra giận, trách mắng nhưng thực chất để xoa dịu Chí Phèo

– Với các bà vợ: Bá Kiến là chồng nên “quát”, thị uy

c, Dẹp đám đông để cô lập Chí Phèo

– Dùng lời lẽ nhẹ nhàng, xoa dịu tâm trí của Chí Phèo. Sau đó thân mật, xưng hô như người nhà để khích lệ, tạo sự thân thiết

+ Nâng vị thế Chí Phèo ngang hàng với với mình để trấn an Chí, khiến Chí thấy bản thân được hãnh diện, ngang hàng với gia đình danh giá nhất làng

d, Với chiến lược giao tiếp như trên, Bá Kiến đạt mục đích giao tiếp. Người liều lĩnh, bất cần như Chí bị thu phục

 Nhân vật giao tiếp Bài 1 (trang 21 sgk ngữ văn 12 tập 2)

 Nhân vật giao tiếp Bài 2 (trang 21 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Thái độ và lời nói của nhân vật giao tiếp

– Viên đội sếp tay: quát tháo

– Chú bé con: thầm thì

– Chị con gái: thốt ra

– Anh sinh viên: kêu lên

– Bác cu-li xe: thở dài

– Nhà nho: lẩm bẩm

Các nhân vật xét về đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa các nhân vật giao tiếp với đặc điểm lời nói:

– Chú bé, ít tuổi nên cách nói ngộ nghĩnh, hồn nhiên

– Chị con gái: phụ nữ trẻ, nên chú trọng cách ăn mặc, khen với vẻ thích thú

– Anh sinh viên: chưa trải đời, nói như một cách phỏng đoán chắc chắn

– Bác cu li xe chú ý tới đôi ủng

Nhà nho có trình độ, chú ý tới tướng mạo, phán bằng câu thành ngữ thâm sâu

→ Tất cả các nhân vật đều có thái độ, cử chỉ thể hiện sự châm biếm, mỉa mai

 Nhân vật giao tiếp Bài 3 (trang 22 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Quan hệ bà lão hàng xóm với chị Dậu là quan hệ hàng xóm thân tình. Thể hiện qua cách xưng hô:

– Bà lão: bác trai, anh ấy

– Chị Dậu: cám ơn, nhà cháu, cụ…

b, Sự tương tác về hành động lời nói của hai nhân vật giao tiếp: hai nhân vật đổi vai luân phiên

+ Bà lão hỏi thăm – chị Dậu cảm ơn

+ Bà lão hỏi tình hình anh Dậu – chị Dậu trả lời thân tình

+ Bà khuyên bỏ trốn- chị Dậu tán thành, nghe theo

c, Cách nói thân tình, gần gũi, thể hiện sự thấu hiểu, đồng cảm giữa những người hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau

 

Mỗi nhân vật giao tiếp đều có cách thức và phương thức khác nhau. Với các ngữ cảnh khác nhau, nhân vật sẽ có cách bộc lộ riêng. Bên cạnh đó, nhân vật giao tiếp cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của lối văn của tác giả.

Soạn bài: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

Soạn bài: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi là một trong 3 dạng nghị luận thường xuất hiện trong chương trình thi. Dưới đây là một sốví dụ để bạn ứng dụng và thực hành.

ĐềNghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi 1:

Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

Đặc sắc kết cấu truyện:

– Sự giống và khác nhau giữa những việc trong truyện, tác giả

– Tìm ra mâu thuẫn, tính trào phúng, mỉa mai của truyện

– Đặc điểm ngôn ngữ của truyện ( ngôn ngữ người kể, ngôn ngữ nhân vật)

– Mục đích viết truyện của Nguyễn Công Hoan, từ đó nêu khái quát giá trị hiện thực

– Giá trị hiện thực và ý nghĩa phê phán

Dàn bài Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về nhà văn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn Tinh thần thể dục

Thân bài:

Phân tích, chỉ ra điểm chung và nét riêng của các cảnh bắt người đi xem bóng đá:

+ Cảnh anh Mịch nhăn nhó với ông Lí

+ Cảnh bác Phô gái phân trần với ông Lí

+ Cảnh cụ phó Bính xin ông Lí cho thằng Sang đi thay con

+ Cảnh thằng Cò cùng đứa con trốn vào đống rơm bị phát hiện

– Ông Lí áp giải được 94 người lên huyện. Phân tích mâu thuẫn hình thức và bản chất của “tinh thần thể dục”

– Nêu tính trào phúng, châm biếm của truyện

Kết bài: Nêu giá trị về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn

Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuô

ĐềNghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi 2:

Tìm sự khác nhau về từ ngữ và gióng văn giữa hai tác giả Chữ người tử tù và Hạnh phúc của một tang gia

Tìm hiểu đề:

– Sự khác nhau:

+ Chữ người tử tù sử dụng nhiều từ Hán việt cổ, cách nói dựng lên cảnh tượng suy tàn con người phong kiến, tác giả nói tới những người tài hoa nay còn vang bóng

– Trong “Hạnh phúc của một tang gia” tác giả dùng nhiều từ, cách chơi chữ để mỉa mai, giễu cợt tính giả tạo

– Việc dùng từ, chọn giọng văn phù hợp với chủ đề truyện, thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả

– Tìm hiểu, xác định đề: Yêu cầu nghị luận một phương diện của tác phẩm: nghệ thuật châm biếm, đả kích của tác giả

Lập dàn ý Nghị luận về một tác phẩm

Mở bài

Giới thiệu truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc thực chất châm biếm, đả kích sự bất tài, bù nhìn của vua Khải Định và bản chất bọn mật thám Pháp trong chuyến công du của vua Khải Định

Thân bài

– Châm biếm, đả kích tập trung vào các phương diện:

+ Khải Định là thành một tên hề có mày da khác lạ, ăn mặc kệch cỡm

+ Vua mà có hành động như kẻ gian, lén lút, đáng ngờ

+ Mật thám Pháp thành người “phục vụ tạn tụy” (bám lấy đế giày) với cái nhìn hồ đồ, lẫn lộn

– Cách sử dụng ngôn ngữ của Người có sự châm biếm, đả kích sâu cay trong đó

+ Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, và miêu tả

Kết bài: Truyện ngắn Vi hành thành công khi lột trần được bản chất của kẻ bán nước và cướp nước bằng giọng mỉa mai, châm biếm

Đả kích thói bịp bợm, lố lăng của Khải Định và những tên tay sai thực dân

 

Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi trên đây sẽ đặc biệt hữu ích cho bạn trong việc nắm các tác phẩm này. Cũng như cách làm một bài văn nghị luận.

Soạn bài: Viết bài làm văn số 6: Nghị luận văn học

Soạn bài: Viết bài làm văn số 6: Nghị luận văn học

Tuyển tập những đề nghị luận văn học xuất hiện nhiều trong hệ thống ngân hàng đề

Đềnghị luận văn học 1:

Trong chuyện Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi có nêu lên quan niệm: chuyện gia đình cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc. Rồi trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, “mà biển thì rộng lắm […], rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta“. Anh (chị) có cho rằng trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòng sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau: chị em Chiến và Việt?

A. Mở bài

Trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình thực sự đã có một dòng chảy của truyền thống gia đình. Dòng sông ấy đã thực sự chảy từ các thế hệ cha anh đến thế hệ của những chiến sĩ trẻ anh dũng thời kỳ chống Mĩ cứu nước. Trong quan niệm của Nguyễn Thi, mỗi con người mỗi đời người trong một gia đình phải là khúc sông trong một dòng sông truyền thống: “chuyện gia đình cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc. Rồi trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, “mà biển thì rộng lắm […], rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta”.

B. Thân bài

1. Khúc thượng nguồn của dòng sông hiện ra qua hình tượng chú Năm và má Việt

Truyền thống ấy chảy từ các thế hệ ông bà, cha mẹ, cô chú đến những đứa con mà kết tinh là ở hình tượng chú Năm.

a. Chú Năm

Chú Năm không chỉ là người ham sông nước mà còn ham đạo nghĩa. Trong con người chú Năm phảng phất cái tinh thần Nguyễn Đình Chiểu xa xưa.

– Chú Năm là một cuốn gia phả sống luôn hướng về truyền thống, sống với truyền thống, đại diện cho truyền thống và lưu giữ truyền thống (Qua những câu hò, cuốn sổ gia đình).

b. Má Việt: Hình tượng người mẹ cũng là hiện thân của truyền thống.

– Một con người sinh ra để chống chọi với gian nguy, khó nhọc “Cái gáy đo đỏ, đôi vai lực lưỡng, tấm áo bà ba đẫm mồ hôi, người sực mùi lúa gạo- thứ mùi của đồng áng của cần cù mưa nắng”.

– Ấn tượng sâu đậm nhất là khả năng ghìm nén đau thương để sống, để che chở cho đàn con và để tranh đấu.

– Người mẹ ấy không biết sợ, không chùn bước, kiên cường và cao cả.

2. Khúc sông sau của dòng sông hiện ra qua hình tượng Chiến, Việt

Khúc sông sau bao giờ cũng chảy xa hơn khúc sông trước. Người mẹ mang nỗi đau mất chồng nhưng chưa kịp cầm súng còn Chiến mạnh mẽ quyết liệt, ghi tên đi bộ đội trả thù cho ba má.

– Việt là chàng trai mới lớn lộc ngộ, vô tư

– Chất anh hùng ở Việt: Không bao giờ biết khuất phục; bị thương chỉ có một mình vẫn quyết tâm sống mái với kẻ thù.

– Việt đi xa hơn dòng sông truyền thống: Không chỉ lập chiến công mà ngay cả khi bị thương vẫn là người đi tìm giặc. Việt chính là hiện thân của sức trẻ.

=> Điều đó có nghĩa là, từ một dòng sông của gia đình nhà văn muốn ta nghĩ đến biển cả, đến đại dương của nhân dân và nhân loại.

=> Chuyện gia đình cũng là chuyện của cả dân tộc đang hào hùng chiến đấu bằng sức mạnh sinh ra từ những đau thương.

C. Kết bài

Nêu ý kiến của bản thân về câu nói của Nguyễn Thi.

Nghị luận văn học

Đềnghị luận văn học 2:

Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tùy bút Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Đường).

A. Mở bài

– Giới thiệu đề tài đất nước quê hương trong văn học Việt Nam thời kì từ CMT8.

– Giới thiệu hai tác phẩm.

– Giới thiệu đề bài.

B. Thân bài

1. Vẻ đẹp dòng sông Đà

Theo tác giả, sông Đà có hai tính cách cơ bản: hung bạo và trữ tình, Sông Đà chỉ thơ mộng khi mang nét trữ tình.

Khi sông Đà chảy qua vùng bình nguyên thì nó trở nên hiền hòa, là bạn của con người chứ không phải là kẻ thù số một như ở đoạn trên. Tác giả nhìn con sông Đà ở đoạn này với nhiều góc độ khác nhau.

– Ở trên cao nhìn xuống sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, ẩn hiện trong mây trời, hoa núi mùa xuân gợi vẻ đẹp mơ màng, duyên dáng, kín đáo.

– Bên bờ nhìn xuống thì thấy dòng sông lấp loáng như đứa trẻ nghịch gương, nhìn thấy nó như đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân => vẻ hiền hòa, thân thiện.

– Dưới thuyền nhìn lên thấy bờ sông hoang dại như bờ tiền sử, bở sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa … => gợi vẻ đẹp tự nhiên, giàu chất thơ, chất hội họa.

=> Tác giả dùng nhiều phép so sánh sáng tạo, ngôn ngữ mềm mại, giọng văn nhẹ nhàng, hình ảnh thơ mộng, dịu dàng nên đã vẻ được ra nhiều bức tranh giàu chất hội họa: dòng sông ẩn hiện trong mây trời, con hươu ngẩng đầu ra khỏi ánh cỏ sương … để từ đó làm nổi bật hình ảnh dòng sông hiền hòa, thơ mộng, trong sáng. Dòng sông có vẻ đẹp của thi ca, nhạc họa.

Nguyễn Tuân đã khám phá dòng sông ở phương diện thẩm mĩ: được xem là một tác phâm hội họa tuyệt vời mà tạo hóa ban tặng cho đất nước.

2. Vẻ đẹp của sông Hương

Tác giả tả tỉ mỉ, từ thượng nguồn Trường Sơn, dòng Hương chảy qua núi đồi, cánh đồng, làng mạc, kinh thành rồi đổ ra biển Đông. Dòng sông được nhân hóa như người con gái có dáng dấp, trang phục, gương mặt, tính cách, tâm hồn …

– Giữa dòng Trường Sơn, nó là bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn … như cô gái di-gan phóng khoáng và man dại … nó có bản lĩnh gan dạ với một tâm hồn tự do và trong sáng.

– Khi ra khỏi rừng, sông Hương lại mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, như người mẹ phù sa, tâm hồn sâu thẳm đã đóng kín lại ở cửa rừng. Những ngọn đồi tạo nên những mảng phản quan lên gương mặt sông nhiều màu sắc trên nền tây nam thành phố: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím.

– Giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, dòng sông như người đẹp nhủ mơ màng … uốn mình theo những đường cong thật mềm … sắc nước xanh thẳm.

– Giữa đám quần sơn lô xô ấy là giấc ngủ nghìn năm của những vưa chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch, dòng sông đi qua giữa chốn bốn bề núi phủ mây phong lại mang vẻ đẹp trầm mặc … kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga …

– Từ đó, như tìm đúng đường về, sông Hương lại vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô. Giáp mặt thành phố thì sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến quanh năm sương khói mơ màng, làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng vâng không nói của tình yêu.

– Khi rời khỏi kinh thành, nó lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc … như sự nhớ điều gì chưa bịp nói, nó đột ngột đổi dòng để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh … như chút vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu … ấy là tấm lòng người Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.

=> Giọng văn mềm mại giàu chất nhạc, ngôn từ giàu chất thơ đã lột tả hết vẻ phong phú của dòng sông nhưng nổi bật nhất là vẻ duyên dáng, hiền hòa, trong xanh phẳng lặng như mặt nước hồ thu. Gương mặt của dòng sông phả chiếu tấm gương muôn màu và thanh âm của quê hương xứ sở. Chiều dài của dòng sông như chiều dài của một chuyến đi, cũng là hành trình lớn lên của một cuộc đời được đào thải những tính nết chưa đẹp để giữ lại nét đáng yêu của tuôi đương thì, nên dòng chảy biểu lộ một tính cách có thay đổi theo địa hình để vừa tô điểm cho vẻ đẹp kinh thành như một con người của quê hương xứ Huế.

3. Sông Đà và sông Hương

=> Vẻ đẹp phong phú của dòng sông còn mang đến thi hứng cho văn nhân nên sau đó những vần thơ được bắt nhịp để trở về tô điểm cho con sông. Sông Hương thành con sông của thi ca nhạc họa, bồi đắp phù sa văn hóa cho đất kinh thành. Biết bao sung sướng tự hào của tác giả về dòng sông thơ mộng của quê mình.

C. Kết bài

– Cả hai nhà văn đều sử dụng thể tùy bút để khám phá vẻ đẹp riêng của mỗi dòng sông, giúp người đọc thêm hiểu biết về vẻ đẹp phong phú của cảnh quan đất nước.

– Hai đoạn trích đều bộc lộ lòng tự hào và tình yêu quê hương đất nước của hai nhà văn.

Nghị luận văn học

Đềnghị luận văn học 3:

Về một truyện ngắn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam mà anh (chị) yêu thích.

A. Mở bài

– Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân.

– Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

B. Thân bài

1. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê hương đất nước. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.

2. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người, nhân vật ông Hai. Ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.

a. Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai.

– Ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê.

– Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.

b. Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.

– Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng, ông nhớ quá cái không khí “đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…“; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bí mật,…” đã xong chưa?

– Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bìh luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm“.

c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.

– Khi mới nghe tin xấu đó, ông sững sờ, chưa tin. Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.

– Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi“. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói“, lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân.

– Ba bốn ngày sau, ông không dám ra ngoài. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.

– Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù“. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.

– Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:

+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông, bố của nó.

+ Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông“.

+ Qua đó, ta thấy rõ:

Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).

Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc, chân thành. Tình cảm đó sâu nặng, bền vững và vô cùng thiêng liêng: có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.

d. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.

– Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường.

– Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.

3. Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.

– Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.

– Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.

C. Kết bài

Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng, cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.

 

Những đề nghị luận văn học trên nếu thực hành nhiều bạn sẽ viết tốt hơn. Đây là những đề có liên quan đến các tác phẩm thường xuất hiện trong chương trình thi. Bạn hãy note lại nhé!

Soạn bài: Người lái đò sông Đà

Soạn bài: Người lái đò sông đà

Người lái đò sông Đà là câu chuyện về dòng sông cùng người lái đò. Điều đặc biệt ở đây là người lái đò lại chính là ông cụ. Qua đó có thể khắc họa rõ nét về sự tương phản giữa thiên nhiên và con người. Tất cả làm nên một hình ảnh một con sông Đà hùng vĩ.

Phần 1 (từ đầu đến gậy đánh phèn): sự dữ dội, hung bạo của sông Đà

Phần 2 (dòng nước sông Đà): cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò

Phần 3 (còn lại): vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà

Người lái đò sông Đà Câu 1 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Tác phẩm người Lái đò sông Đà thể hiện sự quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng của nhà văn trên các phương diện:

– Tác giả miêu tả sông Đà từ những chi tiết cụ thể, sinh động và thực tế

– Tác giả miêu tả từ nhiều góc quan sát độc đáo khác nhau

+ Từ trên máy bay thấy sông Đà như một sợi dây thừng

+ Trực tiếp ngồi trên thuyền tham gia hành trình trên sông Đà

Người lái đò sông Đà Câu 2 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Để khắc họa hình tượng sông Đà như một con sông hung bạo, tác giả có sử dụng các biện pháp nhân hóa, so sánh:

+ Bờ sông, dựng vách thành… có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một yết hầu, lòng sông như có chỗ nằm gọn giữa hai bờ vách như con hàng động huyền bí

+ Khung cảnh mênh mông hàng cây số nước đá…như lúc nào cũng đòi nợ xuýt

+ Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu

– Biện pháp nhân hóa: âm thanh

+ Tiếng nước réo nghe như oán trách, lúc như van xin, khiêu khích, giọng gằn như chế nhạo

→ Biện pháp tu từ khiến cho dòng sông Đà trở nên nổi bật với sức mạnh hoang dại, vẻ hùng vĩ, sự dữ tợn, táo bạo trước góc miêu tả tinh tế của tác giả

Người lái đò sông Đà Câu 3 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Dòng sông Đà trữ tình:

– Sự liên tưởng độc đáo: Sông Đà tuôn dài như áng tóc trữ tình của người thiếu nữ

– Sông Đà được nhìn qua làn mây, qua ánh nắng với màu sắc

+ Xuân: xanh màu xanh ngọc bích

+ Thu: lừ đừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa

– Sông Đà gắn bó với con người tựa cố nhân

– Bờ sông hoang dại, bình lặng như thời tiền sử- hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa

→ Sông Đà trữ tình, hiền hòa, sự tài hoa của Nguyễn Tuân đã mang lại những áng văn bức tranh trữ tình làm say đắm lòng người

Người lái đò sông Đà

Người lái đò sông Đà Câu 4 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Hình ảnh người lái đò sông Đà trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo

– Con người nhỏ bé đời thường, không vũ khí, không phép màu, có thể thắng được thạch trận đủ 3 lớp

– Người lái đò được miêu tả là người tài năng, nhanh trí, vượt thác như cưỡi ghềnh, xé toang lớp này đến lớp khác trùng vi thạch trận

– Những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉ, thất vọng qua bộ mặt xanh lè

→ Người lái đò chiến thắng trong trận chiến cam go bằng sự ngoan cường, dũng cảm, tài trí.

Ông lái đò đúng là thứ vàng mười của đất nước, xứng đáng được tôn vinh, ngợi ca

Người lái đò sông Đà Câu 5 (trang 193 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Một số câu văn thể hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Tuân:

Biện pháp so sánh:

+ Tiếng thác nước nghe như oán trách…

+ Sóng nước như thế quân liều mạng…

+ Con sông Đà tuôn dài như một áng trữ tình…

+ Bờ sông hoang dại… cổ tích tuổi xưa

→ Sông Đà hiện lên vừa thơ mộng, trữ tình, vừa dữ dội, bạo tàn

Người lái đò sông Đà Bài 1 (trang 193 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Tìm đọc trọn vẹn tùy bút Người lái đò sông Đà.

“Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình…mỗi độ thu về”

Mở bài: giới thiệu khái quát tác phẩm, tác giả

Nêu được vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà thể hiện trong đoạn văn trên

Thân bài: Hình ảnh sông Đà trữ tình

+ Mày sắc độc đáo, hình sáng mềm mại, hiện lên trong sự diễm lệ của núi rừng Tây Bắc

+ Sông Đà được so sánh gợi cảm, ấn tượng

– Cái tôi trữ tình của Nguyễn Tuân

+ Chất nghệ sĩ, rung cảm trước cái đẹp đầy màu sắc, nhìn bằng con mắt của người họa sĩ

+ Cái tôi tài hoa, nhìn sự vật dưới góc độ thẩm mĩ

+ Đó là cái tôi uyên bác, tài hoa

Kết bài: Tác giả với sự tài hoa, giàu thẩm mĩ đã tìm ra được sự.

Văn mẫu lớp 12: Người lái đò Sông Đà

 

Người lái đò sông Đà thể hiện được nét tài hoa của Nguyễn Tuân. Ông khắc họa người lái đò với những đặc điểm hình thể gò yếu, tuy nhiên ở ông lại có sự dẻo dai. Để có thể vượt qua sóng dữ của dòng sông Đà.

Soạn bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông

Soạn bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông

Ai đã đặt tên cho dòng sông là câu chuyện về dòng sông Hương. Được viết ra dưới ngòi bút tài tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đã tạo nên một sự liên tưởng về con sông Hương thơ mộng. Qua đó thấy được sự hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm… của dòng sông này.

Phần 1 (từ đầu … quê hương xứ sở): hành trình của dòng sông Hương

Phần 2 (còn lại): sông Hương của lịch sử, thơ ca

Ai đã đặt tên cho dòng sông Câu 1 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 1):

a, Vẻ đẹp của thượng lưu được tác giả miêu tả:

– Mang vẻ đẹp sức sống mãnh liệt, hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm, có lúc dịu dàng, say đắm

+ Sự mãnh liệt hoang dại của con sông được thể hiện qua biện pháp so sánh: bản trường ca rừng già, hình ảnh đầy ấn tượng, sự mãnh liệt thể hiện qua ghềnh thác, cuộc sóng như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn

– Vẻ đẹp dịu dàng, say đắm: màu sắc rực rỡ

– Dòng sông được nhân hóa, cô gái di-gan phóng khoáng, man dại, rừng già hun đúc cho cô gái bản lĩnh dan dạ, tâm hồn tư do và trong sáng

b, Đầu bài viết người đọc cảm nhận sự tài hoa từ ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường: liên tưởng, kì thú, xác đáng, ngôn từ gợi cảm… hấp dẫn về con sông mang nét thơ mộng

– Kết thúc tác giả thể hiện trọn vẹn con sông, tâm hồn sâu thẳm của nó, dẫn dắt, mở sang đoạn tiếp

Ai đã đặt tên cho dòng sông  Câu 2 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố bộc l:

+ tài năng, khả năng quan sát, sử dụng ngôn ngữ của tác giả

+ Sự am hiểu tường tận về vị trí địa lý, đặc tính của con sông

+ Lối liên tưởng, so sánh tinh tế, thú vị

+ Am hiểu kiến thức văn hóa, văn học

– Tất cả hòa quyện tạo mang lại hiệu quả nghệ thuật khi tác giả miêu tả được vẻ đẹp trầm mặc, cổ điển cùng với nét tươi mới, hiện đại của sự vật

Ai đã đặt tên cho dòng sông Câu 3 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Sông Hương khi chảy vào thành phố mang vẻ đẹp riêng:

+ Vẻ man dại, dịu dàng, trầm mặc của con sông

+ Con sông giờ đây được khám phá, phát hiện ở sắc thái, tâm trạng

+ Sông Hương gặp thành phố như hòa quyện với điểm hẹn tình yêu, trở nên vui tươi, đặc biệt êm dịu, lãng mạn

+ Ngòi bút tác giả thăng hoa khi tái hiện những cảm nhận tinh tế, liên tưởng, so sánh đẹp đến bất ngờ

– Tác giả dành tình cảm yêu mến đặc biệt cho con sông này, thấu hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp của dòng sông.

Ai đã đặt tên cho dòng sông

Ai đã đặt tên cho dòng sông Câu 4 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Tác giả đã tô đậm con sông nhiều nét thơ dịu dàng, thơ mộng, hoang dã, đã tình, lịch lãm, cổ kính

+ Từ góc nhìn văn hóa truyền thống lịch sử tác giả khắc họa sông Hương với nét tính cách riêng biệt

+ Tái hiện chân thực hình ảnh lịch sử và phẩm chất riêng của người Huế, đặc biệt vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm của người con gái Huế

+ góc nhìn độc đáo, cách diễn tả phong phú, độc đáo của tác giả

Ai đã đặt tên cho dòng sông Câu 5 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Nét đặc sắc trong văn phong của tác giả:

– Tình yêu dạt dào, sâu lắng của tác giả dành cho quê hương, xứ sở vào đối tượng miêu tả, khiến đối tượng trở nên lung linh, huyền ảo, đa dạng như chính con người sống động

– Sự liên tưởng diệu kì, những hiểu biết phong phú về kiến thức địa lý, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và trải nghiệm bản thân

– Ngôn từ trong sáng, phong phú, gợi tả, gợi cảm, giàu chất thơ

– Sử dụng thuần thục các phép tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ

– Sự kết hợp hài hòa của cảm xúc, trí tuệ, chủ quan và khách quan

Đoạn trích tôi thấy đặc sắc và thích nhất:

“Trong những dòng sông đẹp ở cả nước… chân núi Kim Phụng”

– Cái hay về ý tưởng:

+ Xây dựng nhiều trạng thái, cung bậc cảm xúc của con sông

+ Con sông Hương lúc này trở thành sinh thể có hồn, có tâm hồn, tính cách, bản ngã

– Hình ảnh: nhiều màu sắc, lung linh, huyền ảo, trầm ấm như đặc tính của dòng sông

– Ngôn ngữ: cô đọng, súc tích, diễn tả được thần thái của dòng sông, những cung bậc cảm xúc của chính nhà thơ khi cảm nhận về dòng sông.

Ai đã đặt tên cho dòng sông là câu chuyện về dòng sông Hương. Qua đó thấy được tình yêu dạt dào dành cho miền quê này. Với vô vàn cảm xúc, cũng như cung bậc tình cảm. Qua đó người ta thêm yêu Huế hơn. 

Soạn bài: Vợ chồng A Phủ

Soạn bài: Vợ chồng A Phủ

Vợ chồng A Phủ – câu chuyện về miền Tây Bắc đất nước. Trong đó kể tới nhân vật Mị – cô con dâu nhà Thống lý Pá Tra.

– Phần 1 (từ đầu … “bao giờ chết thì thôi“): tâm trạng và hoàn cảnh sống của Mị

– Phần 2 (tiếp … “đánh nhau ở Hồng Ngài“): Hoàn cảnh của A Phủ

– Phần 3 (còn lại): Cuộc tự giải thoát của Mị và A Phủ

Vợ chồng A Phủ Câu 1 (trang 14 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Cảnh ngộ của Mị:

+ Là con dâu gạt nợ (do cha mẹ Mị không trả được nợ cho thống Lí)

+ Mị làm đi làm lại những công việc thường ngày, không ngừng nghỉ, lùi lũi như con rùa trong xó cửa

+ Sống trong căn phòng chỉ có ô vuông bằng bàn tay, không biết được trời mưa hay nắng

+ Tính cách và thân phận của Mị:

+ Trước khi về nhà thống Lí: Mị là cô gái trẻ đẹp, hiền dịu, có hiếu với cha mẹ, chăm chỉ và có nhiều chàng trai để mắt tới

+ Khi về nhà thống Lí: Mị sống vật vờ, héo mòn

– Đêm tình mùa xuân:

+ Mị nhớ lại tất cả kỉ niệm trước kia của mình: cô gái có tài thổi sáo rất hay, tiếng sáo đưa Mị thoát khỏi thực tại

+ Mị sắm sửa đi chơi thì A Sử về, hắn trói Mị vào cột nhà, khiến cô chịu đau đớn tinh thần, thể xác

– Khi nhìn thấy A Phủ bị trói: Mị dửng dưng rồi khi nhìn thấy hai giọt nước mắt A Phủ lăn dài trên gò má, Mị tỉnh thức, nàng cởi trói cho A Phủ cả hai người chạy trốn

→ Tâm trạng Mị từ tuyệt vọng tới hi vọng, Mị dám đứng lên đấu tranh để thoát khỏi kìm hãm

Vợ chồng A Phủ

Vợ chồng A Phủ Câu 2 (trang 15 sgk ngữ văn 12 tập 2)

*Nhân vật A Phủ:

– Chàng trai khỏe mạnh, có tài, nhiều cô gái trong bản mê

– Dám đánh trước thái độ hống hách, cậy quyền thế của A Sử

+ Các động từ mạnh diễn tả hành động của A Phủ: chạy vụt ra, ném con quay, xộc tới, kéo, xé, đánh tới tấp

+ Hành động quyết liệt thể hiện lòng căm thù trước kẻ thù

+ Yêu công lí, tính cách can trường

– A Phủ bị bắt, phải vay nhà thống lí một trăm đồng bạc nộp vạ cho làng, nên chàng trở thành người ở đợ nhà thống lí

– A Phủ làm mất bò, bị thống lí trói vào cột giữa trời

– A Phủ được Mị cứu thoát khỏi nhà thống lí, nước mắt A Phủ thức tỉnh Mị

– A Phủ khao khát được sống tự do, điều đó giúp chàng chiến thắng nỗi đau thể xác và số phận nghiệt ngã để giành lấy tự do

*Cách miêu tả nhân vật

– Nhân vật Mị: được miêu tả bằng nghệ thuật so sánh, thủ pháp vật hóa, cực tả nỗi cơ cực đời Mị

+ Sử dụng hình ảnh ẩn dụ độc đáo, nói lên số phận bất hạnh của Mị

– Nhân vật A Phủ: được khắc họa thông qua hành động, làm nổi bật tính cách táo bạo, gan góc, sự phản kháng mạnh mẽ của chàng trai yêu tự do.

Vợ chồng A Phủ Câu 3 (trang 15 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Nét độc đáo trong cách quan sát và diễn tả của tác giả về đề tài miền núi:

– Chi tiết, hình ảnh miêu tả núi rừng đậm chất thơ

– Cách kể chuyện tự nhiên, sinh động. Truyện có kết cấu, bố cục chặt chẽ, cách dẫn dắt lôi cuốn, sự đan cài chi tiết khéo léo

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng nhiều bút pháp khác nhau khắc họa được tính cách, số phận nhân vật: tả tâm lí, ngoại hình gắn với suy nghĩ thầm lặng

– Ngôn ngữ mang âm hưởng núi rừng, giọng điệu trần thuật có sự hòa kết giọng người kể với nhân vật tạo chất trữ tình

Giá trị nhân đạo của tác phẩm:

– Cảm thông với cảnh ngộ, nỗi khổ của người dân miền núi Tây Bắc

– Phát hiện ra sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do, hạnh phúc của con người

– Ngợi ca tình cảm, lòng trắc ẩn, sự đồng cảm của những người bị áp bức

– Mở ra con đường sống tự do

Các bài văn mẫu lớp 12: Vợ chồng A Phủ

 

Vợ chồng A Phủ giàu ý nghĩa hiện thực. Đó là câu chuyện về số phận của Mị, cũng như những hủ tục lạc hậu từ thời xa xưa. Qua đó bày tỏ sự tiếc thương đối với số phận của họ. Cũng như thể hiện về một niềm tin ngày mai tươi sáng. Đó là khi Mị bỏ trốn cùng A Phủ. Tìm đến con đường mới, con đường của Đảng.

Soạn bài: Vợ Nhặt

Soạn bài: Vợ Nhặt

Vợ nhặt, một tác phẩm nổi tiếng của Kim Lân. Nó kể về nạn đói năm 1945 – cái đã cướp đi hơn 2 triệu đồng bào ta. Câu chuyện giàu ý nghĩa hiện thực và nhân văn cao cả.

Vợ nhặt Câu 1 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

– Phần 1 (từ đầu … “tự đắc với mình“): Tràng đưa được người vợ nhặt về nhà

– Phần 2 (tiếp … “đẩy xe bò“): chuyện hai vợ chồng gặp nhau, thành vợ thành chồng

– Phần 3 (tiếp … “nước mắt chảy ròng ròng“): tình thương của người mẹ nghèo khó

– Phần 4 (còn lại): niềm tin vào tương lai

Mạch truyện được dẫn dắt hợp lí, tất cả cảnh huống được thể hiện đều bắt nguồn từ việc Tràng thông qua lời nói đùa rồi nhặt được vợ giữa những ngày đói khủng khiếp

Cảnh được mở ra khi Tràng dẫn vợ về gặp mẹ. Nếu tác giả đưa đoạn hai lên trước theo trình tự thời gian thì truyện kém hấp dẫn, li kì

Vợ nhặt

Vợ nhặt Câu 2 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tình huống: gọi gọn trong nhan đề tác phẩm vợ nhặt. Tràng- thanh niên nông dân nghèo, xấu, ế vợ bỗng nhặt được vợ dễ dàng

+ Trong thời gian đói kém 1945, hơn hai triệu người chết đói, cái giá của con người rẻ rúng, người ta có thể nhặt được vợ dễ dàng

+ Khao khát hạnh phúc, tổ ấm, hi vọng vào ngày mai

Bà cụ Tứ ngạc nhiên, lo lắng “biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói khát này không?”

+ Xóm ngụ cư ngạc nhiên, bàn tán

+ Tràng bất ngờ với hạnh phúc của mình, sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng

→ Tình huống truyện cho thấy thân phận buồn tủi của người lao động nghèo, bộc lộ tấm lòng người nông dân trong cảnh đời cơ hàn, đói khổ: giàu tình cảm, luôn khao khát hạnh phúc.

Vợ nhặt Câu 3 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm

+ Nhặt: thường đi với những thứ thừa, không ra gì

+ Thân phận con người rẻ rúng như rơm, rác, có thể nhặt được ở bất cứ đâu

+ Người ta hỏi cưới vợ, còn Tràng thì “nhặt vợ”

→ Hoàn cảnh sống khốn cùng, cực khổ

Vợ nhặt Câu 4 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Thể hiện khao khát về tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng lúc anh chàng quyết định lấy vợ

+ Ban đầu, Tràng còn phân vân, do dự, về sau cũng chậc lưỡi cho qua (đúng với ý đồ tác giả)

+Lúc dẫn vợ về xóm ngụ cư, Tràng trở nên khác, phởn phơ lạ thường, môi cười tỉm tỉm, mắt sáng, mặt vênh tự đắc, cũng có lúc lúng ta lúng túng đi bên vợ

– Buổi sáng đầu tiên khi có vợ Tràng thấy êm ả, lửng lơ như người vừa từ trong giấc mơ đi ra, xung quanh có sự thay đổi khác lạ.

+ Niềm hạnh phúc khiến Tràng ý thức hơn về bổn phận, trách nhiệm bản thân (hắn thấy có bổn phận lo cho vợ con)

Vợ nhặt Câu 5 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tâm trạng bà cụ Tứ:

+ mừng, vui, xót, tủi “ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”

+ Đối với con dâu: “lòng bà đầy xót thương” nén vào trong tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình

+ Mang hi vọng, lạc quan trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới “tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi”

→ Bà cụ Tứ hiện thân của con người nghèo khổ: bà nhìn thấu đau khổ của cuộc đời bà, bà lo cho thực tại bế tắc nhưng bà cũng vui trước hạnh phúc của con

Từ ngạc nhiên tới xót xa, trên hết là tình yêu thương. Cũng chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai, để các con có thêm động lực sống

Vợ nhặt Câu 6 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Đặc sắc nghệ thuật của truyện

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo

– Sử dụng ngôn ngữ bình dân, tinh tế, có duyên

– Nghệ thuật tả tâm lí tinh tế, đặc sắc

Vợ nhặt Bài 1 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Chi tiết gây xúc động: Bà cụ Tứ đãi con dâu “chè khoán” nhưng thực chất là cám với sự xót xa “ Xóm ta khối nhà còn chẳng có cám mà ăn đấy”

– Điều này gợi lên cảnh khốn cùng, nghèo đói của giai đoạn đau thương của đất nước ( nạn đói 1945)

+ Ngày đón dâu đáng ra phải đủ đầy, nhưng cách đón dâu trong cảnh nghèo đói lại càng cho ta thêm thấm thía tình người đùm bọc lẫn nhau trong lúc khó khăn

Vợ nhặt Bài 2 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Ý nghĩa đoạn kết truyện

+ Là diễn biến tất yếu xuất phát từ mâu thuẫn nội tại của chuyện: người dân lâm vào cảnh chết đói, đã đứng lên đấu tranh phá kho thóc Nhật

+ Nhân vật Tràng nghĩ tới lá cờ Việt Minh

– Đoạn kết mang tư tưởng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, tư tưởng này không chỉ có cảm thông, thương xót mà còn hướng tới việc đấu tranh giải phóng bản thân

+ Xuất phát từ quan điểm của phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa, nhân vật, hoàn cảnh, tính cách theo hướng vận động đi lên tươi sáng hơn

Các bài văn mẫu lớp 12: Vợ nhặt

Vợ nhặt là một câu chuyện tuy phản ánh hiện thực khốc liệt của nạn đói năm 45. Thời gian “thây chất đầy đường thành đống”. Tuy nhiên, giá trị câu chuyện còn nằm ở phần cuối cùng. Đó là ánh sáng về một ngày mai tươi sáng qua sự kiện phá kho thóc Nhật. Cũng như niềm tin của Đảng.